NGHI THỨC TRÌ TỤNG KINH Kinh Sách Tu Tập
(Dành cho hành giả tu tại gia)
I. Tiền Nghi: Khiết Tịnh & Trang Nghiêm
Trước khi bước vào đàn lễ, hành giả cần giữ cho "thân - khẩu - ý" được thanh tịnh:
Thân khiết tịnh: Tắm gội sạch sẽ, y phục chỉnh tề (nên mặc áo tràng lam hoặc cư sĩ).
Biến thông: Nếu Phật sự đa đoan, công việc bận rộn, hành giả tối thiểu phải súc miệng, rửa mặt, đôi tay sạch sẽ. Quan trọng nhất là gạt bỏ tạp niệm, giữ tâm ý nhẹ nhàng trước khi an tọa.
Đàn tràng: Chọn nơi yên tĩnh, lau dọn bàn kinh sạch sẽ. Nếu có bàn thờ Phật, hãy thắp đèn nến sáng sủa.
II. Pháp Sự Bắt Đầu
Bước 1: Thượng Hương (Dâng Hương)
Hành giả quỳ thẳng, dâng hương ngang trán, tâm quán tưởng khói hương xông thấu mười phương cõi Phật.
Khấn nguyện: "Nguyện đem lòng thành kính, gửi theo đám mây hương. Phảng phất khắp mười phương, cúng dường ngôi Tam Bảo. Thề trọn đời giữ đạo, theo tự tính làm lành. Cùng pháp giới chúng sinh, đồng vãng sinh Cực Lạc."
(Cắm hương vào lư, đảnh lễ Tam Bảo 3 lễ)
Bước 2: Phục Nguyện & Phát Nguyện
Hành giả chắp tay trang nghiêm, đọc lời tác bạch (có thể đọc thầm hoặc đọc thành tiếng nhỏ):
Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)
Hôm nay là ngày: ngày.....tháng..... năm 2026 Dương Lịch hoặc ngày...tháng... năm 2026 Âm Lịch
Đệ tử con tên là: ………… (Pháp danh: …………)
Ngụ tại: ………………………………………………
Giờ này, con xin phát tâm chí thành trì tụng kinh Kinh Sách Tu Tập
Ngưỡng thỉnh:
Mười phương Chư Phật, chư Đại Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng.
Chư vị Thiên Long Bát Bộ, Hộ Pháp Thiện Thần. Xin quang giáng đàn tràng, chứng minh công đức, gia hộ cho đệ tử thân tâm định tĩnh, trí tuệ sáng suốt để việc trì tụng được viên mãn.
Cẩn cáo cung thỉnh:
Nội ngoại Gia tiên, Cửu Huyền Thất Tổ dòng họ ………
Chư vị Thần linh bản xứ, tiền chủ hậu chủ nơi đất này.
Chư vị Oan gia trái chủ, hữu danh vô vị, hữu vị vô danh trong nhiều đời nhiều kiếp.
Nguyện xin cùng vân tập về đây, nương nhờ uy lực của Phật Pháp, lắng nghe kinh văn, khai tâm mở trí, lìa khổ u minh, đồng hướng về nẻo giác, vãng sinh cõi lành.
Đảnh lễ (Trì tụng danh hiệu):
Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần - Mỗi lần 1 lạy để tiêu trừ nghiệp chướng trước khi đọc kinh)
Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần - Để tương ưng với bản nguyện)
Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần - Để nhờ ngài tiếp dẫn các hương linh)
III. Chính Nghi: Trì Tụng Kinh Văn Kinh Sách Tu Tập
Tâm thế: Đọc rõ ràng, rành mạch, không cần quá nhanh. Tâm đặt vào lời kinh (Tâm lưu xuất, nhĩ lắng nghe).
Linh hoạt:
Nếu có thời gian: Tụng trọn bộ (Toàn kinh).
Nếu bận rộn: Có thể chia theo Phẩm để tụng.
Khi có việc đột xuất: Đọc đến hết một Phẩm, xá ba xá, đánh dấu trang kinh.
Lời tác bạch khi tạm dừng: "Nay đệ tử có duyên sự (hoặc sức khỏe), xin tạm dừng việc trì tụng Kinh Sách Tu Tập tại đây. Nguyện đem lòng thành kính này giữ trọn, mai sau tiếp tục hành trì cho đến khi viên mãn."
Nam-Mô-Lăng-Nghiêm Hội-Thượng Phật Bồ Tát ( 3 lần )
Diệu trạm tổng trì bất động tôn,
Thủ-Lăng-Nghiêm-Vương thế hi hữu,
Tiêu Ngã ức kiếp điên-đảo tưởng.
Bất lịch tăng-kỳ hoạch pháp thân,
Nguyện kim đắc quả thành bảo-vương,
Hườn độ như thị hằng sa chúng, Tương thử thâm tâm phụng trần sát, Thị tắc danh vị báo Phật ân: Phục thỉnh Thế-Tôn vị chứng minh, Ngũ-trược ác-thế thệ tiên nhập, Như nhứt chúng sinh vị thành Phật, Chung bất ư thử thủ nê-hoàn. Đại –hùng đại -lực đại -từ-bi, Hi cánh thẩm trừ vi-tế hoặc, Linh ngã tảo đăng vô -thượng giác, Ư thập phương giới tọa đạo tràng ; Thuấn nhã đa tánh khả tiêu vong, Thước –ca –ra tâm vô động chuyển.
Nam-mô thường-trụ thập-phương Phật. Nam-mô thường-trụ thập-phương Pháp. Nam-mô thường-trụ thập-phương Tăng. Nam-mô Thích-Ca Mâu-Ni Phật. Nam-mô Phật Đảnh Thủ-Lăng-Nghiêm. Nam-mô Quán-Thế-Âm Bồ-Tát. Nam-mô Kim-Cang-Tạng Bồ-Tát.
Nhĩ thời Thế-Tôn, Tùng nhục-kế trung, Dõng bá bảo-quang, Quang trung dõng xuất , Thiên diệp bảo liên, Hữu hóa Như-Lai, Tọa bảo hoa trung, Đảnh phóng thập đạo, Bá bảo quang-minh, Nhứt nhứt quang-minh, Giai biến thị hiện, Thập hằng hà sa, Kim-Cang mật tích, Kình sơn trì sử, Biến hư-không giới, Đại chúng ngưỡng quan, Ủy ái kiêm bảo, Cầu Phật ai hựu, Nhứt tâm thính Phật, Vô-kiến đảnh tướng , Phóng quang như La-Lai, Tuyên thuyết thần chú:
Đệ Nhất 01. Nam-mô tát đát tha 02. Tô già đa da 03. A ra ha đế 04. Tam-miệu tam bồ đà tỏa 05. Nam mô tát đát tha 06. Phật đà cu tri sắc ni sam 07. Nam-mô tát bà 08. Bột đà bột địa 09. Tát đa bệ tệ 10. Nam-mô tát đa nẩm 11. Tam-miệu tam bồ đà 12. Cu tri nẩm 13. Ta xá ra bà ca 14. Tăng già nẩm 15. Nam-mô lô kê A-La-Hán đa nẩm. 16. Nam-mô tô lô đa ba na nẩm. 17. Nam-mô ta yết rị đà dà di nẩm. 18. Nam-mô lô kê tam-miệu dà đa nẩm. 19. Tam-miệu dà ba ra 20. Ðể ba đa na nẩm. 21. Nam-mô đề bà ly sắc nỏa. 22. Nam-mô tất đà da 23. Tỳ địa da 24. Ðà ra ly sắc nỏa. 25. Xá ba noa 26. Yết ra ha 27. Ta ha ta ra ma tha nẩm 28. Nam-mô bạt ra ha ma ni 29. Nam-mô nhân dà ra da 30. Nam-mô bà dà bà đế 31. Lô đà ra da. 32. Ô ma bát đế 33. Ta hê dạ da. 34. Nam-mô bà dà bà đế 35. Na ra dả 36. Noa da 37. Bàn dá ma ha tam mộ đà da 38. Nam-mô tất yết rị đa da 39. Nam-mô bà dà bà đế 40. Ma ha ca ra da 41. Ðịa rị bác lặc na 42. Dà ra tỳ đà ra 43. Ba noa ca ra da. 44. A địa mục đế 45. Thi ma xá na nê 46. Bà tất nê 47. Ma đát rị dà noa 48. Nam-mô tất yết rị đa da 49. Nam-mô bà dà bà đế 50. Ða tha dà đa câu ra da 51. Nam-mô bát đầu ma câu ra da. 52. Nam-mô bạc xà ra câu ra da. 53. Nam-mô ma ni câu ra da 54. Nam-mô dà xà câu ra da 55. Nam-mô bà dà bà đế 56. Ðế rị trà 57. Du ra tây na. 58. Ba ra ha ra noa ra xà da 59. Ða tha dà đa da 60. Nam-mô bà dà bà đế 61. Nam-mô A di đa bà da 62. Ða tha dà đa da 63. A ra ha đế. 64. Tam-miệu tam bồ đà da 65. Nam-mô bà dà bà đế 66. A sô bệ da 67. Ða tha dà đa da 68. A ra ha đế 69. Tam-miệu tam bồ đà da 70. Nam-mô bà dà bà đế 71. Bệ xa xà da 72. Câu lô phệ trụ rị da 73. Bác ra bà ra xà da 74. Ða tha dà đa da. 75. Nam-mô bà dà bà đế 76. Tam bổ sư bí đa 77. Tát lân nại ra lặc xà da 78. Ða tha dà đa da 79. A ra ha đế 80. Tam-miệu tam bồ đà da 81. Nam-mô bà dà bà đế 82. Xá kê dã mẫu na duệ 83. Ða tha dà đa da 84. A ra ha đế 85. Tam-miệu tam bồ đà da 86. Nam-mô bà dà bà đế 87. Lặc đát na kê đô ra xà da 88. Ða tha dà đa da 89. A ra ha đế 90. Tam-miệu tam bồ đà da 91. Ðế biều 92. Nam-mô tát yết rị đa 93. ế đàm bà dà bà đa 94. Tát đác tha dà đô sắc ni sam 95. Tát đác đa bát đác lam 96. Nam-mô a bà ra thị đam 97. Bác ra đế 98. Dương kỳ ra 99. Tát ra bà 100. Bộ đa yết ra ha 101. Ni yết ra ha 102. Yết ca ra ha ni 103. Bạt ra bí địa da 104. Sất đà nể 105. A ca ra 106. Mật rị trụ 107. Bát rị đác ra da 108. Nảnh yết rị 109. Tát ra bà 110. Bàn đà na 111. Mục xoa ni 112. Tát ra bà 113. Ðột sắc tra 114. Ðột tất phạp 115. Bát na nể 116. Phạt ra ni 117. Giả đô ra 118. Thất đế nẩm 119. Yết ra ha 120. Ta ha tát ra nhã xà 121. Tỳ đa băng ta na yết rị 122. A sắc tra băng xá đế nẩm 123. Na xoa sát đác ra nhã xà 124. Ba ra tát đà na yết rị 125. A sắc tra nẩm 126. Ma ha yết ra ha nhã xà 127. Tỳ đa băng tát na yết rị 128. Tát bà xá đô lô 129. Nể bà ra nhã xà 130. Hô lam đột tất phạp 131. Nan giá na xá ni 132. Bí sa xá 133. Tất đác ra 134. A kiết ni 135. Ô đà ca ra nhã xà 136. A bát ra thị đa câu ra 137. Ma ha bác ra chiến trì 138. Ma ha điệp đa 139. Ma ha đế xà 140 Ma ha thuế đa xà bà ra 141. Ma ha bạt ra bàn đà ra 142. Bà tất nể 143. A rị da đa ra 144. Tỳ rị câu tri 145. Thệ bà tỳ xà da 146. Bạt xà ra ma lễ để 147. Tỳ xá lô đa 148. Bột đằng dõng ca 149. Bạt xà ra chế hắt na a giá 150. Ma ra chế bà 151. Bát ra chất đa 152. Bạt xà ra thiện trì 153. Tỳ xá ra giá 154. Phiến đa xá 155. Bệ để bà 156. Bổ thị đa 157. Tô ma lô ba 158. Ma ha thuế đa 159. A rị da đa ra 160. Ma ha bà ra a bác ra 161. Bạt xà ra thương yết ra chế bà 162. Bạt xà ra câu ma rị 163. Câu lam đà rị 164. Bạt xà ra hắt tát đa giá 165. Tỳ địa da 166. Kiền dá na 167. Ma rị ca 168. Khuất tô mẫu 169. Bà yết ra đá na 170. Bệ lô giá na 171. Câu rị da 172. Dạ ra thố 173. Sắc ni sam 174. Tỳ chiếc lam bà ma ni giá. 175. Bạt xà ra ca na ca ba ra bà. 176. Lồ xà na 177. Bạt xà ra đốn trỉ giá 178. Thuế đa giá 179. Ca ma ra 180. Sát sa thi 181. Ba ra bà. 182. ế đế di đế 183. Mẫu đà ra 184. Yết noa. 185. Ta bệ ra sám 186. Quật phạm đô 187. ấn thố na mạ mạ tỏa.
Ðệ Nhị 188. Ô Hồng 189. Rị sắc yết noa 190. Bác lặc xá tất đa 191. Tát đác tha 192. Già đô sắc ni sam 193. Hổ hồng đô lô ung 194. Chiêm bà na 195. Hổ hồng đô lô ung 196. Tất đam bà na 197. Hổ hồng đô lô ung 198. Ba ra sắc địa da 199. Tam bác xoa 200. Noa yết ra 201. Hổ hồng đô lô ung 202. Tát bà dược xoa 203. Hắt ra sát ta 204. Yết ra ha nhã xà 205. Tỳ đằng băng tát na yết ra 206. Hổ hồng đô lô ung 207. Giả đô ra 208. Thi để nẩm 209. Yết ra ha 210. Ta ha tát ra nẩm 211. Tỳ đằng băng tát na ra 212. Hổ hồng đô lô ung 213. Ra xoa 214. Bà già phạm 215. Tát đác tha 216. Già đô sắc ni sam 217. Ba ra điểm 218. Xà kiết rị 219. Ma ha ta ha tát ra 220. Bột thọ ta ha tát ra 221. Thất rị sa 222. Câu tri ta ha tát nê 223. Ðế lệ a tệ đề thị bà rị đa 224. Tra tra anh ca 225. Ma ha bạt xà lô đà ra 226. Ðế rị bồ bà na 227. Man trà ra 228. Ô hồng 229. Ta tất đế 230. Bạt bà đô 231. Mạ mạ 232. ấn thố na mạ mạ tỏa.
Ðệ Tam 233. Ra xà bà dạ 234. Chủ ra bạt dạ 235. A kỳ ni bà dạ 236. Ô đà ca bà dạ 237. Tỳ xa bà dạ 238. Xá tát đa ra bà dạ 239. Bà ra chước yết ra bà dạ 240. Ðột sắc xoa bà dạ 241. A xá nể bà dạ 242. A ca ra 243. Mật rị trụ bà dạ 244. Ðà ra nị bộ di kiếm 245. Ba già ba đà bà dạ 246. Ô ra ca bà đa bà dạ 247. Lặc xà đàn trà bà dạ 248. Na dà bà dạ 249. Tỳ điều đát bà dạ 250. Tô ba ra noa bà dạ 251. Dược xoa yết ra ha 252. Ra xoa tư yết ra ha 253. Tất rị đa yết ra ha 254. Tỳ xá giá yết ra ha 255. Bô đa yết ra ha 256. Cưu bàn trà yết ra ha 257. Bổ đơn na yết ra ha 258. Ca tra bổ đơn na yết ra ha 259. Tất kiền độ yết ra ha 260. A bá tất ma ra yết ra ha 261. Ô đàn ma đà yết ra ha 262. Xa dạ yết ra ha 263. Hê rị bà đế yết ra ha 264. Xả đa ha rị nẩm 265. Yết bà ha rị nẩm 266. Lô địa ra ha rị nẩm 267. Mang ta ha rị nẩm 268. Mê đà ha rị nẩm 269. Ma xà ha rị nẩm 270. Xà đa ha rị nữ 271. Thị tỷ đa ha rị nẩm 272. Tỳ đa ha rị nẩm 273. Bà đa ha rị nẩm 274. A du giá ha rị nữ 275. Chất đa ha rị nữ 276. Ðế sam tát bệ sam 277. Tát bà yết ra ha nẩm 278. Tỳ đà dạ xà 279. Sân đà dạ di 280. Kê ra dạ di 281. Ba rị bạt ra giả ca 282. Hất rị đởm 283. Tỳ đà dạ xà 284. Sân đà dạ di 285. Kê ra dạ di 286. Trà diễn ni 287. Hất rị đởm 288. Tỳ đà dạ xà 289. Sân đà dạ di 290. Kê ra dạ di 291. Ma ha bát du bát đác dạ 292. Lô đà ra 293. Hất rị đởm 294. Tỳ đà dạ xà 295. Sân đà dạ di 296. Kê ra dạ di 297. Na ra dạ noa 298. Hất rị đởm 299. Tỳ đà dạ xà 300. Sân đà dạ di 301. Kê ra dạ di 302. Ðát đỏa dà lô trà tây 303. Hất rị đởm 304. Tỳ đà dạ xà 305. Sân đà dạ di 306. Kê ra dạ di 307. Ma ha ca ra 308. Ma đác rị già noa 309. Hất rị đởm 310. Tỳ đà dạ xà 311. Sân đà dạ di 312. Kê ra dạ di 313. Ca ba rị ca 314. Hất rị đởm 315. Tỳ đà dạ xà 316. Sân đà dạ di. 317. Kê ra dạ di 318. Xà dạ yết ra 319. Ma độ yết ra 320. Tát bà ra tha ta đạt na 321. Hất rị đởm 322. Tỳ đà dạ xà 323. Sân dà dạ di 324. Kê ra dạ di 325. Giả đốt ra 326. Bà kỳ nể 327. Hất rị đởm 328. Tỳ đà dạ xà 329. Sân đà dạ di 330. Kê ra dạ di 331. Tỳ rị dương hất rị tri 332. Nan đà kê sa ra 333. Dà noa bác đế 334. Sách hê dạ 335. Hất rị đởm 336. Tỳ đà dạ xà 337. Sân đà dạ di 338. Kê ra dạ di 339. Na yết na xá ra bà noa 340. Hất rị đởm 341. Tỳ đà dạ xà 342. Sân đà dạ di 343. Kê ra dạ di 344. A-la-hán 345. Hất rị đởm 346. Tỳ đà dạ xà 347. Sân đà dạ di 348. Kê ra dạ di 349. Tỳ đa ra dà 350. Hất rị đởm 351. Tỳ đà dạ xà 352. Sân đà dạ di 353. Kê ra dạ di 354. Bạt xà ra ba nể 355. Câu hê dạ câu hê dạ 356. Ca địa bát đế 357. Hất rị đởm 358. Tỳ đà dạ xà 359. Sân đà dạ di 360. Kê ra dạ di 361. Ra xoa vỏng 362. Bà dà phạm 363. ấn thố na mạ mạ tỏa
Ðệ Tứ 364. Bà dà phạm 365. Tát đác đa bát đác ra 366. Nam-mô tý đô đế 367. A tất đa na ra lặc ca 368. Ba ra bà 369. Tất phổ tra 370. Tỳ ca tát đác đa bát đế rị 371. Thập Phật ra thập Phật ra 372. Ðà ra đà ra 373. Tần đà ra tần đà ra 374. Sân đà sân đà 375. Hổ hồng hổ hồng. 376. Phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra. 377. Ta ha 378. Hê hê phấn 379. A mâu ca da phấn 380. A ba ra đề ha da phấn 381. Ba ra bà ra đà phấn 382. A tố ra 383. Tỳ đà ra 384. Ba ca phấn 385. Tát bà đề bệ tệ phấn 386. Tát bà na dà tệ phấn 387. Tát bà dược xoa tệ phấn 388. Tát bà kiền thát bà tệ phấn 389. Tát bà bổ đơn na tệ phấn 390. Ca tra bổ đơn na tệ phấn 391. Tát bà đột lang chỉ đế tệ phấn. 392. Tát bà đột sáp tỷ lê 393. Hất sắc đế tệ phấn 394. Tát bà thập bà lê tệ phấn 395. Tát bà a bá tất ma lê tệ phấn 396. Tát bà xá ra bà noa tệ phấn. 397. Tát bà địa đế kê tệ phấn 398. Tát bà đát ma đà kê tệ phấn 399. Tát bà tệ đà da 400. Ra thệ giá lê tệ phấn 401. Xà dạ yết ra 402. Ma độ yết ra 403. Tát bà ra tha ta đà kê tệ phấn. 404. Tỳ địa dạ 405. Giá lê tệ phấn 406. Giả đô ra 407. Phược kỳ nể tệ phấn 408. Bạt xà ra 409. Câu ma rị; 410. Tỳ đà dạ 411. La thệ tệ phấn 412. Ma ha ba ra đinh dương 413. Xoa kỳ rị tệ phấn 414. Bạt xà ra thương yết ra dạ 415. Ba ra trượng kỳ ra xà da phấn 416. Ma ha ca ra dạ 417. Ma ha mạt đát rị ca noa 418. Nam-mô ta yết rị đa da phấn. 419. Tỷ sắc noa tỳ duệ phấn 420. Bột ra ha mâu ni duệ phấn 421. A kỳ ni duệ phấn 422. Ma ha yết rị duệ phấn 423. yết ra đàn tri duệ phấn 424. Miệc đát rị duệ phấn 425. Lao đát rị duệ phấn 426. Giá văn trà duệ phấn 427. Yết la ra đác rị duệ phấn. 428. Ca bát rị duệ phấn 429. A địa mục chất đa 430. Ca thi ma xá na 431. Bà tư nể duệ phấn 432. Diễn kiết chất 433. Tát đỏa bà tỏa 434. Mạ mạ ấn thố na mạ mạ tỏa.
Ðệ Ngũ 435. Ðột sắc tra chất đa 436. A mạt đác rị chất đa 437. Ô xà ha ra 438. Dà ba ha ra 439. Lô địa ra ha ra 440. Ta bà ha ra 441. Ma xà ha ra 442. Xà đa ha ra 443. Thị tỉ đa ha ra 444. Bạt lược dạ ha ra 445. Kiền đà ha ra 446. Bố sữ ba ha ra 447. Phả ra ha ra 448. Bà tả ha ra 449. Bát ba chất đa 450. Ðột sắc tra chất đa. 451. Lao đà ra chất đa 452. Dược xoa yết ra ha 453. Ra sát ta yết ra ha 454. Bế lệ đa yết ra ha 455. Tỳ xá giá yết ra ha 456. Bộ đa yết ra ha 457. Cưu bàn trà yết ra ha 458. Tất kiền đà yết ra ha 459. Ô đát ma đà yết ra ha 460. Xa dạ yết ra ha 461. A bá tất ma ra yết ra ha. 462. Trạch khê cách 463. Trà kỳ ni yết ra ha 464. Rị Phật đế yết ra ha 465. Xà di ca yết ra ha 466. Xá câu ni yết ra ha 467. Lao đà ra 468. Nan địa ca yết ra ha 469. A lam bà yết ra ha 470. Kiền độ ba ni yết ra ha 471. Thập phạt ra 472. Yên ca hê ca 473. Trị đế dược ca 474. Ðát lệ đế dược ca 475. Giả đột thác ca 476. Ni đề thập phạt ra 477. Tỉ sam ma thập phạt ra 478. Bạt để ca 479. Tỷ để ca 480. Thất lệ sắc mật ca 481. Ta nể bát để ca 482. Tát bà thập phạt ra 483. Thất lô kiết đế 484. Mạt đà bệ đạt lô chế kiếm 485. A ỷ lô kiềm 486. Mục khê lô kiềm 487. Yết rị đột lô kiềm 488. Yết ra ha 489. Yết lam yết noa du lam 490. Ðản đa du lam 491. Hất rị dạ du lam 492. Mạt mạ du lam 493. Bạt rị thất bà du lam 494. Tỷ lật sắc tra du lam 495. Ô đà ra du lam 496. Yết tri du lam 497. Bạt tất đế du lam 498. Ô lô du lam 499. Thường dà du lam 500. Hắc tất đa du lam 501. Bạt đà du lam 502. Ta phòng án dà 503. Bát ra trượng dà du lam 504. Bộ đa tỷ đa trà 505. Trà kỳ ni 506. Thập bà ra 507. Ðà đột lô ca 508. Kiến đốt lô kiết tri 509. Bà lộ đa tỳ 510. Tát bát lô 511. Ha lăng già 512. Du sa đát ra 513. Ta na yết ra 514. Tỳ sa dụ ca 515. A kỳ ni 516. Ô đà ca 517. Mạt ra bệ ra 518. Kiến đa ra 519. A ca ra 520. Mật rị đốt 521. Ðát liểm bộ ca 522. Ðịa lật lặc tra 523. Tỷ rị sắc chất ca 524. Tát bà na câu ra 525. Tứ dẫn dà tệ 526. Yết ra rị dược xoa 527. Ðác ra sô 528. Mạt ra thị 529. Phệ đế sam 530. Ta bệ sam 531. Tất đát đa bát đác ra 532. Ma ha bạt xà lô 533. Sắc ni sam 534. Ma ha bát lặc trượng kỳ lam 535. Dạ ba đột đà 536. Xá dụ xà na 537. Biện đát lệ noa 538. Tỳ đà da 539. Bàn đàm ca lô di 540. Ðế thù 541. Bàn đàm ca lô di 542. Bát ra tỳ đà 543. Bàn đàm ca lô di 544. Ðát điệt tha Án A na lệ Tỳ xá đề bệ ra bạt xà ra đà rị Bàn đà bàn đà nể Bạt xà ra bán ni phấn Hổ Hồng đô lô ung phấn ta bà ha (3 lần)
Nam Mô A Di đà Phật. Nam-Mô-Lăng-Nghiêm Hội-Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)
Ý NGHĨA VÀ CÔNG DỤNG NHỮNG THẦN CHÚ:
(Sưu tập trong Nhị Khoá Hiệp Giải của Hoà Thượng Thích Khánh Anh và trong Bạch Y Thần Chú của Đường Sáng Ấn Quán số 712N. 9th Strêt, San Jose, CA 95112 ấn hành).
Những người hành trì Kinh Đại Thừa Phật Giáo đều có tụng các Thần Chú trong các thời khoá nhằm mục đích tiêu trừ nghiệp chướng oan khiên, thêm được phúc lành tăng trưởng. Ý nghĩa chữ Thần Chú như trước đã giải thích là lời nói bí mật của Chư Phật (Mật ngôn hay Phật ngôn), lời nói đặc biệt này chỉ có các đức Phật trong mười phương nghe biết mà nó không phải là thứ ngôn ngữ thường tình của các chúng sinh trong ba cõi sử dụng, cho nên những thứ ngôn ngữ này người phàm phu không thể nào hiểu rõ. Những ai muốn Chư Phật, chư Bồ Tát trong mười phương gia hộ những khổ đau của cuộc đời chỉ cần hành trì Thần Chú được chỉ dẫn sẽ được linh ứng theo sở cầu. Thần Chú của Mật Tông có nhiều loại và mỗi loại có công dụng riêng, nhưng các Thiền Gia trong các Thiền Môn chỉ chọn khoảng một số Thần Chú để sử dụng tụng trong các buổi lễ như Cầu An, Cầu Siêu, Sám Hối, v.v… gồm có Thần Chú Lăng Nghiêm, Thần Chú Đại Bi và mười Thần Chú khác gọi là Thập Chú. Ý Nghĩa và công dụng các Thần Chú nói trên được giải thích như sau:
* Chú Lăng Nghiêm:
Công dụng của Thần Chú Lăng Nghiêm, theo Triết Lý Đạo Phật hay Đại Cương Kinh Lăng Nghiêm trong Phật Học Phổ Thông Khoá VI và VII của Hoà Thượng Thích Thiện Hoa, trang 255 và 266 đức Phật nói: “Nếu người nào nghiệp chướng nặng nề không thể trừ được, ông (chỉ ông A Nan) nên dạy họ chí tâm trì chú Lăng-nghiêm này thì các nghiệp chướng đều tiêu diệt” và đức Phật nói tiếp: “Sau khi ta diệt độ các chúng sinh đời sau, nếu có người trì tụng chú này thì các tai nạn: thủy tai, hoả hoạn, thuốc độc, độc trùng, ác thú, yêu tinh, quỉ quái, v.v… đều chẳng hại được”.
Chúng ta muốn đạt thành những ý nguyện cho cuộc sống được an lạc và thành quả trên con đường giác ngộ giải thoát thì phải chuyên cần hành trì thâm nhập Chú Lăng Nghiêm này để nhờ thần lực chuyển hoá hộ. Điều đó chính đức Phật đã nói trong Kinh Lăng Nghiêm: “Ma Đăng Già là kẻ dâm nữ, không có tâm tu hành còn được thành quả Thánh, huống chi các ông là bậc Thanh văn, có chí cầu đạo vô thượng, lại trì tụng chú này, thì quyết định thành Phật rất dễ, cũng như than gió tung bụi, chẳng có khó gì.”
Công Ðức Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm
Anan, những câu nhiệm mầu, những bài kệ bí mật Phật đỉnh quang tụ Tát đát đa bát đát ra xuất sinh mười phương Chư Phật. Mười phương Như Lai nhân chú tâm này, thành vô thượng chánh biến tri giác. Mười phương Như Lai nắm chú tâm này uốn dẹp các ma, chế phục ngoại đạo. Mười phương Như Lai vận chú tâm này ngồi hoa sen báu, ứng hiện vi trần cõi nước. Mười phương Như Lai ngậm chú tâm này nơi vi trần cõi chuyển đại pháp luân. Mười phương Như Lai giữ chú tâm này xoa đỉnh thọ ký cho các Bồ-tát. Tự mình quả vị chưa thành, nương chú tâm này sẽ được mười phương Phật thọ ký. Mười phương Như Lai nương chú tâm này cứu vớt các khổ địa ngục, ngã quỷ, bàng sinh, đui điếc ngọng câm, oán thù gặp gỡ, ân ái biệt ly, cầu bất đắc, năm ấm xí thịnh. Tai nạn lớn nhỏ đồng thời giải thoát. Nạn giặc, binh, vua, nước, gió, lửa, tù ngục cho đến đói khát bần cùng đều được tiêu tan. Mười phương Như Lai theo chú tâm này ở khắp mười phương phụng sự thiện tri thức, cúng dường như ý. Trong pháp hội hằng sa Như Lai, trì chú tâm này được suy tôn là đại Pháp-vương-tử. Mười phương Như Lai dùng chú tâm này nhiếp thọ thân nhân, khiến hàng tiểu thừa nghe tạng bí mật không sinh kinh sợ. Mười phương Như Lai truyền chú tâm này, sau khi diệt độ, phó chúc pháp sự được cứu cánh trụ trì, nghiêm tịnh giới luật ắt được thanh tịnh. Nếu ta nói chú Phật đỉnh quang tụ Bát đát ra này từ sáng đến tối, âm thanh nối nhau, chữ câu không trùng điệp, trải qua kiếp số như cát sông Hằng cũng không cùng tận(29). Chú này cũng gọi là Như Lai Ðỉnh. Các ông còn hữu học cầu quả A-la-hán, không trì chú này quyết không tránh khỏi ma sự. Anan, viết chép chú này trên vỏ cây, lá bối, giấy trắng, lụa là, đựng trong túi thơm hoặc đeo trên mình, hoặc thờ trong nhà thì trọn đời tất cả các thứ độc không hại được, kiếp kiếp chẳng sinh vào những nơi bần cùng hạ tiện chẳng được vừa ý. Anan, ta tuyên lại chú này để cứu giúp thế gian thoát khổ sợ hãi, thành tựu trí tuệ xuất thế gian. Sau khi ta diệt độ, đời mạt pháp ai tụng hay dạy người tụng thì những thần chú ác của thiên long quỷ thần tinh kỳ ma mị đều vô can. Dù chưa được chánh thọ, tất cả trú trớ yểm cổ thuốc độc, kim độc, ngân độc và các độc khí vào miệng người ấy đều thành cam lồ. Tất cả ác tinh, ác quỷ thần, không thể khởi ác niệm. Dạ Ca và các ác độc quỷ vương, vì đã lãnh ơn sâu nên thường giữ gìn ủng hộ. Thần chú này có 84.000 na do tha hằng hà sa câu chi chủng tộc Kim Cương Tạng Vương Bồ-tát cùng quyến thuộc ngày đêm theo hầu. Trì chú này dù tâm tán loạn, các ngài vẫn không bỏ. Ðối với người Bồ-đề tâm quyết định thì các ngài chuyên thầm xúc tiến để khai sáng thần thức, khiến có thể nhớ lại 84.000 hằng hà sa kiếp. Ðời đời không sinh vào các loài ác độc. Mười phương Như Lai có bao nhiêu công đức đều cho người trì chú. Hằng hà sa kiếp thường cùng Chư Phật đồng sinh một chỗ. Vô lượng công đức nhóm lại như chùm ác-xoa. Vì đồng với Phật một chỗ huân tu, nên phá giới trở về thanh tịnh, chưa được giới khiến được giới, không trì trai giới tự thành trai giới, chưa tinh tấn khiến tinh tấn, không trí tuệ khiến có trí tuệ. Dù xưa kia đã phạm cấm giới, sau khi trì chú, bao tội nặng nhẹ nhất thời tiêu diệt. Uống rượu, ăn ngũ tân, các thứ không sạch, tất cả Chư Phật, Bồ-tát, Kim Cương, thiên tiên, quỷ thần đều tha thứ. Tất cả hành vi cử động đều được coi như thanh tịnh. Y phục rách nát bẩn thỉu cũng không lỗi. Dù không lập đàn, không vào đạo tràng, không hành đạo mà trì chú này công đức vẫn viên mãn. Ngũ nghịch, vô gián, tứ khí, bát khí, một khi tụng chú này như gió mạnh thổi tan đống cát. Ðọc, tụng, chép thần chú, đeo trên thân, để nơi chỗ ở, tất cả tội chướng nặng nhẹ từ vô lượng kiếp đều tiêu tan như tuyết gặp nước sôi, chẳng bao lâu sẽ chứng vô sinh nhẫn. Chí tâm nhớ niệm thần chú hoặc đeo trên mình thì cầu con liền được con trai, con gái phúc đức trí tuệ. Cầu sống lâu được sống lâu, cầu quả báo mau viên mãn, mau được viên mãn. Về thân mệnh sắc lực cầu gì cũng được như ý. Mệnh chung tùy nguyện vãng sinh mười phương Tịnh-độ. Chắc chắn không lạc về biên địa hạ tiện, huống nữa là các tạp hình. Này Anan, viết thần chú này để trên bốn cửa thành, các tháp hay trên nóc nhà ; khiến nhân dân kính rước chú này, lễ bái cung kính nhất tâm cúng dường ; khiến mỗi người đeo chú trong mình hoặc để nơi chỗ ở ; thì tất cả các nạn đói kém, bệnh dịch đao binh… tất cả các thứ tai ách thảy đều tiêu tan. Này Anan, nơi nào có thần chú này, thiên long vui mừng, mưa gió thuận thời, ngũ cốc được mùa, dân chúng an vui, đêm ngày ngủ yên không ác mộng. Cõi Ta Bà có 84.000 ác tinh, 28 đại ác tinh làm thượng thủ, đứng chủ là 8 đại ác tinh, xuất hiện nhiều hình trạng, gây ra các tai nạn dị kỳ. Chỗ nào có thần chú này, nội trong 12 do tuần, không còn những tai biến hung dữ ấy. Vậy nên Như Lai truyền dạy chú này để bảo vệ vị lai các hàng sơ học vào chánh định được thân tâm thư thái an ổn. Những oan khiên đời trước, nghiệp cũ nợ xưa không còn khuấy hại. Anan cùng hàng hữu học, những kẻ tu hành vị lai, y pháp lập đàn tràng, giới sư giới tử thanh tịnh, đối với chú tâm này không nghi hối, nếu chính nơi thân cha mẹ sinh ra không được tâm thông, thì mười phương Như Lai đều là vọng ngữ.
Kim Cương thiện thần phát nguyện bảo hộ :
Vô lượng trăm ngàn Kim Cương chắp tay đảnh lễ bạch rằng : Như lời Phật dạy, chúng con thành tâm bảo hộ những người tu đạo Bồ-đề. Phạm Vương, Ðế Thích, Tứ Thiên Vương cũng đồng thời đảnh lễ bạch rằng : Chúng con hết lòng chí thành bảo hộ người tu học khiến một đời được như nguyện. Vô lượng đại tướng Dược-xoa, các vua La-sát, Phú-đơn-na, Cưu-bàn-trà, Tỳ-xá-già, quỷ vương, quỷ soái đồng chắp tay đảnh lễ bạch rằng : Chúng con thề nguyện hộ trì người tu khiến tâm Bồ-đề mau được viên mãn. Vô lượng Nhật thiên tử, Nguyệt thiên tử, Thần gió, Thần mưa, Thần mây, Thần sấm sét, Thần điện chớp, cùng các Thần coi về năm tháng, các tinh sao và quyến thuộc v.v… đảnh lễ bạch rằng : Chúng con bảo hộ người tu hành ở trong đạo tràng được không sợ hãi. Vô lượng Thần núi, Thần biển, tất cả linh kỳ đất đai muôn vật, thủy lục không hành, Phong thần vương và chư thiên vô-sắc giới đồng thời cúi đầu bạch rằng : Chúng con bảo hộ người tu hành không còn ma sự sớm thành Bồ-đề. 84.000 na do tha hằng hà sa câu chi Kim Cang Tạng Vương Bồ-tát đảnh lễ bạch rằng : Thế Tôn, chúng con thành đạo Bồ-đề đã lâu, không nhập Niết-bàn, thường theo chú này cứu giúp những bậc chân chánh tu Tam-ma-đề trong đời mạt pháp. Bạch Thế Tôn, những vị này dù ở trong đạo tràng kinh hành hay tán tâm đi trong làng xóm, quyến thuộc chúng con thường theo hộ vệ. Ma vương, Ðại Tự Tại Thiên, muốn dùng phương tiện khuấy phá, chúng con dùng chày báu đập nát đầu họ như vi trần. Các quỷ thần nhỏ phải ở xa bậc thiện lành ấy mười do tuần, trừ khi họ phát tâm ủng hộ.
IV. Hậu Nghi: Phổ Nguyện Hồi Hướng
Hành giả chắp tay, đọc lời hồi hướng công đức:
"Con xin đem công đức trì tụng kinh Kinh Sách Tu Tập này, hồi hướng cho:
Cửu huyền thất tổ, nội ngoại tông thân nhiều đời kiếp, nguyện ông bà cha mẹ siêu sinh Tịnh Độ.
Oan gia trái chủ, những chúng sinh con vô tình hay cố ý tổn hại, nguyện hóa giải oán kết, đồng tu thiện nghiệp.
Vong linh thai nhi, các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn, và thập nhị loại cô hồn nơi đất này, mong tất cả nương nhờ Phật lực, sớm thoát luân hồi.
Gia đình bản thân: Cầu nguyện gia môn hưng thịnh, tai qua nạn khỏi, bệnh tật tiêu trừ, công việc hanh thông. Nguyện cho bản thân con trí tuệ khai mở, tâm bồ đề kiên cố, bền bỉ tu học, tinh tấn không lui sụt."
Phục nguyện: Nguyện khắp thế giới an lành, chúng sinh đồng đăng bỉ ngạn.
Nam Mô A Di Đà Phật. (Lạy 3 lễ rồi lui ra)