TuTap.vn • Kinh Bản Tu Trì

Kinh Sách Tu Tập

Ngày 18/09/2026 (Âm lịch: Ngày 8 tháng 8 năm 2026)

🪷 NGHI THỨC TRƯỚC KHI ĐỌC KINH, CHÚ

NGHI THỨC TRÌ TỤNG KINH Kinh Sách Tu Tập

(Dành cho hành giả tu tại gia)

I. Tiền Nghi: Khiết Tịnh & Trang Nghiêm

Trước khi bước vào đàn lễ, hành giả cần giữ cho "thân - khẩu - ý" được thanh tịnh:

  • Thân khiết tịnh: Tắm gội sạch sẽ, y phục chỉnh tề (nên mặc áo tràng lam hoặc cư sĩ).

  • Biến thông: Nếu Phật sự đa đoan, công việc bận rộn, hành giả tối thiểu phải súc miệng, rửa mặt, đôi tay sạch sẽ. Quan trọng nhất là gạt bỏ tạp niệm, giữ tâm ý nhẹ nhàng trước khi an tọa.

  • Đàn tràng: Chọn nơi yên tĩnh, lau dọn bàn kinh sạch sẽ. Nếu có bàn thờ Phật, hãy thắp đèn nến sáng sủa.

II. Pháp Sự Bắt Đầu

Bước 1: Thượng Hương (Dâng Hương)

Hành giả quỳ thẳng, dâng hương ngang trán, tâm quán tưởng khói hương xông thấu mười phương cõi Phật.

Khấn nguyện: "Nguyện đem lòng thành kính, gửi theo đám mây hương. Phảng phất khắp mười phương, cúng dường ngôi Tam Bảo. Thề trọn đời giữ đạo, theo tự tính làm lành. Cùng pháp giới chúng sinh, đồng vãng sinh Cực Lạc."

(Cắm hương vào lư, đảnh lễ Tam Bảo 3 lễ)

Bước 2: Phục Nguyện & Phát Nguyện

Hành giả chắp tay trang nghiêm, đọc lời tác bạch (có thể đọc thầm hoặc đọc thành tiếng nhỏ):

Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

Hôm nay là ngày: ngày.....tháng..... năm 2026 Dương Lịch hoặc ngày...tháng... năm 2026 Âm Lịch

Đệ tử con tên là: ………… (Pháp danh: …………)

Ngụ tại: ………………………………………………

Giờ này, con xin phát tâm chí thành trì tụng kinh Kinh Sách Tu Tập

Ngưỡng thỉnh:

  • Mười phương Chư Phật, chư Đại Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng.

  • Chư vị Thiên Long Bát Bộ, Hộ Pháp Thiện Thần. Xin quang giáng đàn tràng, chứng minh công đức, gia hộ cho đệ tử thân tâm định tĩnh, trí tuệ sáng suốt để việc trì tụng được viên mãn.

Cẩn cáo cung thỉnh:

  • Nội ngoại Gia tiên, Cửu Huyền Thất Tổ dòng họ ………

  • Chư vị Thần linh bản xứ, tiền chủ hậu chủ nơi đất này.

  • Chư vị Oan gia trái chủ, hữu danh vô vị, hữu vị vô danh trong nhiều đời nhiều kiếp.

Nguyện xin cùng vân tập về đây, nương nhờ uy lực của Phật Pháp, lắng nghe kinh văn, khai tâm mở trí, lìa khổ u minh, đồng hướng về nẻo giác, vãng sinh cõi lành.

Đảnh lễ (Trì tụng danh hiệu):

  • Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần - Mỗi lần 1 lạy để tiêu trừ nghiệp chướng trước khi đọc kinh)

  • Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần - Để tương ưng với bản nguyện)

  • Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần - Để nhờ ngài tiếp dẫn các hương linh)

III. Chính Nghi: Trì Tụng Kinh Văn Kinh Sách Tu Tập

  • Tâm thế: Đọc rõ ràng, rành mạch, không cần quá nhanh. Tâm đặt vào lời kinh (Tâm lưu xuất, nhĩ lắng nghe).

  • Linh hoạt:

    • Nếu có thời gian: Tụng trọn bộ (Toàn kinh).

    • Nếu bận rộn: Có thể chia theo Phẩm để tụng.

    • Khi có việc đột xuất: Đọc đến hết một Phẩm, xá ba xá, đánh dấu trang kinh.

Lời tác bạch khi tạm dừng: "Nay đệ tử có duyên sự (hoặc sức khỏe), xin tạm dừng việc trì tụng Kinh Sách Tu Tập tại đây. Nguyện đem lòng thành kính này giữ trọn, mai sau tiếp tục hành trì cho đến khi viên mãn."

📖 Kinh Sách Tu Tập — CHÍNH VĂN TOÀN BỘ

 CHÙA VẠN NIÊN

ĐƯỜNG LẠC LONG QUÂN - TÂY HỒ - HÀ NỘI

KINH PHỔ MÔN

SOẠN GIẢ

Hòa thượng THÍCH VIÊN THÀNH

Đại đức THÍCH MINH TUỆ

TRÌNH BÀY

QUẢNG HUY

 

PHẬT LỊCH 2556 * THÁNG 3-2012

LỜI NÓI ĐẦU

Việc trì tụng Kinh bằng tiếng bản địa, mang lại nhiều lợi ích không thể nghĩ bàn. Chính vì vậy, các bậc trưởng thượng bao đời nay, cũng như Tôn sư Hòa Thượng thượng Viên Hạ Thành, khi tại thế, rất tâm huyết truyền bá Phật Pháp, biên soạn nhiều bản Kinh tụng bằng tiếng Việt, được đông đảo Phật tử trân trọng, yêu thích.

Nhân dịp Chùa Vạn Niên khai mở chương trình thuyết giảng Phật Pháp, cũng vì đông đảo Phật tử cần cầu Kinh sách trì tụng cho thống nhất và phù hợp tại bản tự, nay Chùa Vạn Niên biên soạn các khóa tụng Kinh thông dụng bằng tiếng Việt, như Kinh Dược Sư bản nguyện, Kinh A Di Đà huân tu, Kinh Phổ Môn ...

Mục đích biên soạn nhằm bổ sung cho khóa tụng được đầy đủ, phù hợp, giúp các Phật tử thấu hiểu nghĩa Kinh, và hiệu đính những lỗi chính tả do nhiều lần ấn tống phát sinh ra. Bởi vậy, vẫn dựa trên cơ sở các bản kinh tụng của Tôn sư Hòa thượng để lại, và tham khảo nhiều bản kinh tụng của các bậc tiền bối, như Sư cụ Tuệ Nhuận, Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, Hòa Thượng Thích Tâm Châu, Hòa Thượng Thích Tuệ Hải... và các ấn phẩm Kinh tạng trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Việc làm này, sợ hãi vô cùng. Dù rất cẩn trọng vẫn khó tránh khỏi thiếu sót, lỗi lầm. Rất mong được các bậc cao minh, các Phật tử, hoan hỷ chỉ dẫn, góp công đức hoằng dương Phật Pháp.

Nam mô Hoan Hỷ Địa Bồ Tát Ma Ha Tát.

Chùa Vạn Niên, ngày 25 tháng 3 năm 2021

Thượng Tọa THÍCH MINH TUỆ

LỜI NÓI ĐẦU

Phàm phu ở thế gian có nhiều điều đau khổ: khổ về thể xác, khổ về tâm hồn, khổ về sinh tử, khổ về hoặc nghiệp… kể không thể xiết.

Sở dĩ Chư Phật, Bồ Tát ứng hiện ở thế gian cũng chỉ vì muốn bạt trừ khổ não cho chúng sinh.

Lòng đại bi của Phật, Bồ Tát thật là cao cả, vô biên hơn mẹ thương con, luôn luôn đặt ra các phép phương tiện để tìm cách cứu độ. Nhưng nghiệp tính của chúng sinh không giống nhau nên phương tiện cứu độ của Phật đưa ra cũng phải có nhiều môn, cũng như lương y tùy bệnh cho thuốc. Còn chúng sinh muốn khỏi bệnh thì phải uống thuốc. Muốn hết khổ não thì phải tu tập, thực hành phương tiện.

Phẩm Phổ Môn trong Kinh Pháp Hoa này chính là một môn pháp dược vô cùng linh nghiệm để chữa những tâm bệnh phiền não, đau khổ cho chúng sinh ở Sa Bà. Bồ Tát Quán Thế Âm được nói đến ở Kinh này là một đức Bồ Tát chuyên cứu khổ cứu nạn cho mọi loài chúng sinh, không phân biệt hình tướng, chủng loại. Hễ ai có nạn khổ mà nhất tâm kêu cầu thì đều có cảm ứng. Bởi vì đức Bồ Tát Quán Thế Âm thường sử dụng Từ bi Phổ Môn để vận vô duyên từ và đồng thể đại bi để tế độ mọi loài. Ngài coi chúng sinh là chúng sinh ở trong tâm Ngài, Ngài là Bồ Tát ở trong tâm chúng sinh. Do đó, Ngài và chúng sinh nguyên là đồng thể, sự giải thoát của Ngài gắn với sự giải thoát của chúng sinh, nỗi vui khổ của Ngài cũng gắn liền với nỗi vui khổ của chúng sinh. Chính vì vậy nên hễ ta khởi tâm cầu nguyện thì Bồ Tát đã thấu hiểu ngọn nguồn và tùy duyên cứu độ.

Tăng Ni, Phật tử chúng ta dù ở tông phái nào, tu tập theo Pháp gì cũng cần phải quán niệm đến Bồ Tát Quán Thế Âm và trì tụng Phẩm Phổ Môn này để nguyện cầu đức Đại Bi gia hộ thì mới đỡ được phiền não, nghiệp chướng trên bước đường tiến tu đạo nghiệp.

Nhân kỷ niệm ngày vía đức Quán Thế Âm Bồ Tát, Đạo tràng Chân Tịnh xin thành kính ấn tống Phẩm Phổ Môn để cầu nguyện cho Phật tử trong Đạo tràng được trưởng dưỡng thiện căn, Bồ Đề kiên cố.

Pháp tràng Phật Ấn Tự

Ngày 19 tháng 6 năm Đinh Sửu (1997)

Sa môn Thích Viên Thành 

 SỰ TÍCH BẢN TÔN QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT 

Tiếng Phạn là Avalokitesvara, dịch sang tiếng Hán là Quán Thế Âm, hay Quán Tự Tại.

Theo Kinh Bi Hoa, thì ở vào thời quá khứ có đức Phật ra đời, hiệu là Bảo Tạng Như Lai. Thời đó có vua Chuyển Luân Thánh Vương là Vô Chánh Niệm. Vua đó có quan đại thần là Bảo Hải (phụ thân của đức Bảo Tạng khi chưa xuất gia). Do được Ngài Bảo Hải khuyến tiến nên vua Chuyển Luân xuất gia, đối trước đức Bảo Tạng phát ra 48 đại nguyện, do đó đức Bảo Tạng thụ ký cho Vua (khi đó đã là Pháp Tạng tỷ khiêu), sau này thành Phật hiệu là A Di Đà ở thế giới Cực Lạc.

Vua Chuyển Luân có nhiều con. Con cả là Thái tử Bất Tuẫn, cũng do Ngài Bảo Hải khuyến tiến, Thái tử cũng đi xuất gia theo cha, và đối trước Đức Bảo Tạng Như Lai, phát ra bản nguyện Đại bi thương xót cứu độ tất cả các loài chúng sinh bị khổ não. Vì vậy Đức Bảo Tạng thụ ký cho Thái tử thành Bồ Tát, hiệu là Quán Thế Âm. Còn Ngài Bảo Hải là tiền thân của Thích Ca Mâu Ni. Đức Bảo Tạng thụ ký cho Thái tử rằng : “V ì lòng đại từ bi, ông muốn quán niệm tất cả chúng sinh cho được cùng về cõi An Lạc (Cực Lạc), vậy từ nay đặt tên cho ông là Quán Thế Âm”.

Sau khi Phật A Di Đà vào Niết Bàn rồi, thì cõi nước của Phật A Di Đà đổi tên là “Nhất thiết trân bảo sở thành tựu Thế giới” (Thế giới tất cả trân bảo tạo thành); và bấy giờ ông thành Phật hiệu là “Biến xuất Nhất thiết Quang Minh Công đức vương Như Lai” (Như Lai vua công đức quang minh ra tất cả).

Do đó, Bồ Tát Quán Thế Âm tức là một vị Phật tương lai, sẽ bổ vào ngôi của Đức A Di Đà. Hiện tại thì Ngài cùng với Đức Đại Thế Chí (kiếp xưa là em Ngài, con thứ vua Chuyển Luân, cũng cùng Ngài đồng thời xuất gia và cùng được Đức Bảo Tạng thụ ký), giúp việc giáo hóa độ sinh cho đức A Di Đà, và Ngài cũng ứng thân xuống Sa Bà trợ giáo cho đức Thích Ca Mâu Ni.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm chép lời Ngài (Quán Thế Âm) bạch với Đức Thế Tôn (đức Thích Ca) rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Con nhớ cách đây vô số hằng hà sa kiếp về trước, có đức Phật ra đời, hiệu là Quán Thế Âm. Từ đức Phật kia, con phát tâm Bồ-đề. Đức Phật kia dạy con; do nghe, nghĩ và tu mà vào tam-ma-đề”.

Do đó nên biết, Ngài (Quán Thế Âm) đã phát tâm Bồ đề từ đời đức Phật Quán Thế Âm trong vô số hằng hà sa kiếp về trước. Do nghe Phật thuyết Pháp, Ngài đã nhận định phép tu viên thông về nhĩ căn là hơn tất cả. Do Ngài khéo chứng viên thông ở nhĩ căn, nên được đức Phật Quán Thế Âm thụ ký cho Ngài danh hiệu QUÁN THẾ ÂM, một danh hiệu mà chúng sinh ở mười phương cung kính chấp trì trong những lúc nguy hiểm, đau khổ.

Lại Kinh Quán Âm Tam Muội nói: “Xưa kia Ngài (Quán Thế Âm) đã thành Phật, hiệu là Chính Pháp Minh Như Lai’’. Tiền thân của Đức Thích Ca hồi ấy, đã từng ở dưới Pháp tòa, sung vào trong số đệ tử khổ hạnh để gần gũi. Ngày nay, Đức Thích Ca thành Phật, thời Ngài trở lại làm đệ tử để gần gũi lại. Đó là “Một Đức Phật ra đời thì hàng ngàn Đức Phật phù trì”.

Kinh Đại Bi Tâm Đà la ni thì chép lời Ngài (Quán Thế Âm) bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế-Tôn! Con nhớ vô lượng ức kiếp về trước, có Đức Phật ra đời, hiệu là Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai. Đức Phật ấy vì nghĩ thương đến con và tất cả chúng sinh, nên nói ra môn Đại Bi Tâm Đà la ni. Ngài lại dùng cánh tay sắc vàng xoa đầu con mà bảo: “Thiện nam tử! Ông nên thụ trì tâm chú này và vì khắp tất cả chúng sinh trong cõi trược ở đời vị lai mà làm cho họ được sự lợi ích yên vui lớn!”. Lúc đó con mới ở ngôi Sơ địa, vừa nghe xong thần chú này liền vượt lên chứng đệ Bát địa”.

Mật Tông thì theo trong Kinh Đại Bản Như Ý nói có 8 vị đại Quán Âm, là:

1/ Viên Mãn Ý Nguyệt Minh Vương Bồ Tát

2/ Bạch Y Tự Tại

3/ Cát La Sát Nữ

4/ Tứ Diện Quán Âm

5/ Mã Đầu La Sát

6/ Tỳ Câu Chi

7/ Đại Thế Chí

8/ Đà La Quán Âm (Quán Âm Chuẩn Đề)

Ngài có sức uy thần công đức và lòng bi mẫn rất lớn. Ngài vốn không phải là tướng nữ, nhưng thường vì cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh (mà phụ nữ nhiều khổ nạn hơn nam giới), cho nên giới phụ nữ đặc biệt tín ngưỡng Ngài, vì thế mới kêu cầu đến Ngài luôn luôn, nên chúng sinh mới tưởng tượng ra Ngài có tướng nữ để tiện hóa độ cho phụ nữ. Vả lại chúng sinh ở Sa Bà này được nhờ ơn Ngài cứu độ, che trở nhiều, nên thảy đều coi Ngài như Mẹ hiền, vì vậy mới tưởng Ngài có tướng nữ (vì Mẹ tượng trưng cho lòng thương), nên gọi Ngài là Phật Bà. Chùa Hương Tích có thờ Ngài. Truyện Quán Âm quốc văn có câu:

Rằng trong cõi nước Nam ta

Chùa Hương có Đức Phật Bà Quan Âm

Truyền thuyết nói Ngài hóa thân tu hành ở đó. Không những Ngài cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh trong lúc sống, mà còn tiếp tục độ cho chúng sinh sau khi mất nữa. Nếu chúng sinh nào có chí nguyện cầu Tịnh Độ mà niệm đến danh hiệu Ngài, thì khi mệnh chung, Ngài sẽ tiếp dẫn về Tịnh Độ.

Kinh nói: Đức Phật A Di Đà cùng với Thánh chúng là Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí… hiện thân tiếp dẫn những người tu Tịnh Độ lúc lâm chung về Cực Lạc là thế.

Xem thế thì đủ biết công đức của Đức Quán Thế Âm đối với chúng sinh nói chung và đối với chúng sinh ở Sa Bà nói riêng, to lớn biết dường nào. Cho nên Phật tử chúng ta, dù tu theo Pháp môn gì đi nữa, cũng phải thường xuyên niệm Hồng danh của Ngài, trì chân ngôn của Ngài để cầu Ngài hộ niệm và gia bị cho, mới mong tránh khỏi được những khổ ách, tai nạn, và sự nghiệp tu hành mới mau chóng có kết quả, bản nguyện mới mau chóng được thành tựu.

Sa Môn Thích Viên Thành  

 PHẦN NGHI LỄ TỤNG KINH PHỔ MÔN                 

(Mọi người y phục chỉnh tề, đứng trước Tam Bảo)

Chủ lễ đọc : Ai nấy cung kính…

Dốc lòng kính lễ Phật, Pháp, Tăng, thường ở khắp mười phương. (3 lượt)

(Đều quỳ đọc nguyện hương)

Nguyện đem lòng thành kính

Gửi theo đám mây hương

Phảng phất khắp mười phương

Cúng dàng ngôi Tam Bảo

Thề trọn đời giữ đạo

Theo tự tính làm lành

Cùng Pháp giới chúng sinh

Cầu Phật từ gia hộ

Tâm Bồ đề kiên cố

Xa bể khổ sông mê

Chóng quay về bờ giác.

Cúng dàng đoạn:

Dốc lòng kính lễ Phật, Pháp, Tăng, thường ở khắp mười phương. (1 lễ)

(Mọi người đều đứng, chắp tay đọc)

Đấng Pháp Vương vô thượng

Ba cõi chẳng ai bằng

Thầy dạy khắp trời, người

Cha lành chung bốn loài

Quy y trọn một niệm

Dứt sạch nghiệp ba kỳ

Xưng dương cùng tán thán

Ức kiếp không cùng tận

Phật, chúng sinh tính thường rỗng lặng

Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn

Lưới Đế Châu ví đạo tràng

Mười phương Phật Bảo hào quang sáng ngời.

Trước Chư Phật thân con ảnh hiện

Dưới chân Ngài đỉnh lễ quy y.

1. Dốc lòng kính lễ, Y Pháp tính độ, Vô tướng vô vi, Thanh tịnh Pháp thân, Tỳ Lô Giá Na Phật. (1 lễ )

2. Dốc lòng kính lễ, Y thụ dụng độ, Vô lậu tự tha, Viên mãn Báo thân, Lô Xá Na Phật. (1 lễ)

3. Dốc lòng kính lễ, Y biến hóa độ, ứng hiện thập phương, thiên bách ức hóa thân, Thích Ca Mâu Ni Phật.(1 lễ)

4. Dốc lòng kính lễ, San định nhân quả, cùng cứu tính tướng, nhất thiết chư Kinh tạng, Tu Đa La.(1 lễ)

5. Dốc lòng kính lễ, Thùy phạm tứ nghi, nghiêm chế tam nghiệp, nhất thiết chư Luật tạng, Tỳ Ny Na.(1 lễ)

6. Dốc lòng kính lễ, Nghiên chân hạch ngụy, hiển chính tồi tà, nhất thiết chư Luận tạng, A Tỳ Đàm.(1 lễ)

7. Dốc lòng kính lễ, Tính tướng bất nhị, minh hợp vô vi, nhất thiết tối thượng Tăng Già Gia chúng.(1 lễ)

8. Dốc lòng kính lễ, Thập địa, tam hiền, ngũ quả, tứ hướng, nhất thiết xuất thế Tăng Già Gia chúng.(1 lễ)

9. Dốc lòng kính lễ, Tỷ khiêu ngũ chúng, hòa hợp vô tránh, nhất thiết trụ trì Tăng Già Gia chúng.(1 lễ)

Con nay xin vì bốn ân, ba cõi Pháp giới chúng sinh, nguyện cho tam chướng tiêu trừ, dốc lòng sám hối.(1 lễ)

(Đều quỳ sám hối)

Đệ tử chúng con… xin chí thành sám hối :

Xưa nay gây nên bao ác nghiệp

Đều vì vô thủy tham, sân, si

Bởi thân, miệng, ý phát sinh ra

Hết thảy con nay xin sám hối

Bao nghiệp chướng gây nên như thế

Đều tiêu tan một chút không còn

Niệm niệm cùng khắp trong cõi Pháp

Độ chúng sinh hết thảy không lui

Sám hối rồi…

Dốc lòng kính lễ Phật, Pháp, Tăng, thường ở khắp mười phương.(1 lễ)

(Đều ngồi tụng bài Tán hương)

 

BÀI TÁN HƯƠNG

Lư trầm vừa đốt

Pháp giới thơm lừng

Xa đưa Hải hội Phật đều mừng

Đâu đâu cũng thấy kết tường vân

Thành ý ân cần

Chư Phật hiện toàn thân

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma ha tát. (3 lượt)

 

CHÚ TỊNH NGHIỆP MIỆNG

Tu lị tu lị, ma ha tu lị, tu tu lị, tát bà ha. (3 lượt)

 

CHÚ SẠCH NGHIỆP THÂN

Tu đa lị, tu đa lị, tu ma lị, sa bà ha. (3 lượt)

 

CHÚ SẠCH BA NGHIỆP

Án, sa phạ bà phạ truật đà sa phạ, đạt ma sa phạ bà phạ truật độ hám.(3 lượt)

 

CHÚ AN THỔ ĐỊA

Nam mô tam mãn đá, một đà nẫm.

Án, độ rô độ rô, địa vĩ tát bà ha. (3 lượt)

 

CHÚ PHỔ CÚNG DÀNG

Án, nga nga nẵng tam bà phạ phạt, nhật la hộc. (3 lượt)

***

CHÚ ĐẠI BI

Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ tát. (3 lần)

THIÊN THỦ THIÊN NHÃN VÔ NGẠI ĐẠI BI TÂM ĐÀ LA NI

Nam mô hát ra đát na đá ra dạ gia.

Nam mô a rị gia bà lô yết đế thước bát ra gia.

Bồ đề tát đá bà gia, ma ha tát đá bà gia, ma ha ca lô ni ca gia.

Án, tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tả.

Nam mô tất cát lị đóa y mông, a lị gia bà lô cát đế thất phật ra lăng đà bà.

Nam mô na ra cẩn trì, hê lị ma ha bàn đá sa mế.

Tát bà a tha đậu thâu bằng a thệ dậng.

Tát bà tát đá, (na ma bà tát đá) na ma bà gia, ma phạt đặc đậu, đát điệt tha.

Án, a bà lô hê lô ca đế ca la đế di hê rị.

Ma ha bồ đề tát đỏa,

Tát bà tát bà, ma la ma la, ma hê ma hê rị đà dựng.

Câu lô câu lô yết mông.

Độ lô độ lô phạt sà gia đế, ma ha phạt sà gia đế.

Đà la đà la, địa rị ni thất phật ra gia.

Giá ra giá ra, mạ mạ phạt ma ra mục đế lị, y hê di hê.

Thất na thất na, a ra sấm phật ra xá lị, phạt sa phạt sấm, phật ra sa da.

Hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị.

Sa ra sa ra, tất lị tất lị.

Tô lô tô lô bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ.

Di đế lị dạ, na ra cẩn trì, địa lị sắt ni na, ba dạ ma na, sa bà ha.

Tất đà dạ sa bà ha.

Ma ha tất đà dạ sa bà ha.

Tất đà dụ nghệ thất phàn ra gia sa bà ha.

Na ra cẩn trì sa bà ha.

Ma ra na ra sa bà ha

Tất ra tăng a mục già da sa bà ha.

Sa bà ma ha a tất đà dạ sa bà ha.

Giả cát ra a tất đà giạ sa bà ha.

Ba đà ma yết tất đá giạ sa bà ha.

Na ra cẩn trì bàn già ra già sa bà ha.

Ma bà lị thắng yết ra dạ sa bà ha.

Nam-mô hát ra đát na đá ra dạ gia.

Nam-mô a rị gia bà lô cát đế thước bàn ra gia, sa bà ha.

Án, tất điện đô mạn đá ra bạt đà da, sa bà ha.

 

(THẬP CHÚ)

NHƯ-Ý BẢO LUÂN VƯƠNG ĐÀ-LA-NI

Nam mô Phật Đà da

Nam- mô Đạt- Ma- gia

Nam- mô Tăng- già- da

Nam-mô Quán-Tự-Tại Bồ-Tát Ma-ha-tát cụ đại-bi tâm giả , đát điệt tha.

Án, chước yết la phạt để chấn đa mạt ni ma ha bát đắng mế, rô rô rô rô, để sắt tra thước la a yết lị sa giạ hồng phấn sa ha.

Án, bát đạp ma, chấn đa mạt ni thước la hồng. Án, bát lạt đà bát đản mế hồng. o

 

TIÊU TAI CÁT TƯỜNG THẦN CHÚ

Nẵng mồ tam mãn đá mẫu đà nẫm, a bát la để, hạ đa sá sa nẵng nẫm, đát điệt tha.

Án, dà dà, dà hế, dà hế, hồng hồng nhập phạ la, nhập phạ la, bát la nhập phạ la, bát la nhập phạ la, để sắt sá, để sắt sá, sắt trí lị, sắt trí lị, sa phấn tra, sa phấn tra, phiến để ca, thất lị duệ, sa phạ ha. o

 

CÔNG ĐỨC BẢO SƠN THẦN CHÚ

Nam - mô Phật - Đà - da

Nam - mô Đạt - ma - da

Nam - mô Tăng - Già - da

Án, tất đế hộ rô rô, tất độ rô, chỉ lị ba, cát lị bà, tất đạt lị, bá rô lị, sa phạ ha.o

 

PHẬT-MẪU CHUẨN- ĐỀ THẦN CHÚ

Khể thủ quy y tô tất đế

Đầu diện đính lễ thất câu chi,

Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn - Đề

Duy nguyện từ - bi thùy gia hộ

Nam-mô tát - đá - nẫm tam diểu tam bồ đà, câu chi nẫm , đát điệt tha.

Án, chiết lệ chủ lệ Chuẩn-Đề sa bà ha. o

 

THÁNH VÔ LƯỢNG THỌ QUYẾT ĐỊNH QUANG MINH VƯƠNG ĐÀ-LA-NI

Án, nại ma ba cát ngoã đế, a ba la mật đạp, a ưu lị a nạp, tô tất nễ, thực chấp đạp điệp tả la tể dã, đát tháp nghiệt đạt dã, a la ha đế, tam dược tam bất đạt dã, đát dã tháp.

Án, tát lị ba, tang tư cát lị, bát lị thuật đạp, đạt la mã đế, nghiệt nghiệt nại tang, mã ngột nghiệt đế, sa ba ngoã tỉ thuật đế mã hát nại dã, bát lị ngoã lị sa hát .

 

DƯỢC SƯ QUÁN ĐỈNH CHÂN NGÔN

Nam-mô Bạc dà phạt đế, bệ sái xã lũ rô, bệ lưu ly, bát lạt bà, hát la sà dã, đát tha yết đa da, a ra hát đế, tam diểu tam bột đà gia đát điệt tha.

Án, bệ sái thệ, bệ sái thệ, bệ sái xã, tam một yết đế sa ha. o

 

QUÁN-ÂM LINH CẢM CHÂN NGÔN

Án, ma ni bát minh hồng, ma hạt nghê nha nạp, tích đô đặc, ba đạt tích đặc ta nạp, vi đạt rị cát tát, nhi cán nhi tháp, bốc lị tất tháp, cát nạp bổ la nạp, nạp bốc lị, đâu thắc ban nạp, nại ma lư cát thuyết la da, sa ha. o

 

THẤT PHẬT DIỆT TỘI CHÂN NGÔN

Li bà li bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà la ni đế, ni ha la đế, tỳ lê nễ đế, ma ha dà đế, chân lăng càn đế, sa bà ha. o

 

VÃNG SINH TỊNH ĐỘ THẦN CHÚ

Nẵng mồ A di đá bà giạ, đá tha già đá giạ, đá địa giạ tha, A di lị đô bà tỳ, A di lị đá, tất đam bà tỳ. A di lị đá, tỳ ca lan đế, A di lị đá, tỳ ca lan đá, dà di nhị, dà dà na, chỉ đá ca lệ, sa bà ha. o

 

THIỆN THIÊN NỮ CHÚ

Nam mô Phật đà.    

Nam mô Đạt ma.

Nam mô Tăng già

Nam-mô Thất-lị ma ha đề tị da đát nễ dã tha, ba lị phú lâu na, già lị tam mạn đà đạt sá ni, ma ha tỳ ha la dà đế, tam mạn đà tỳ ni dà-đế, ma ha ca lị dã, ba nễ ba la ba nễ, tát lị phạ lật tha, tam mạn đà tu bát lê đế, phú lệ na, a lị na, đạt ma đế, ma ha tỳ cổ tất đế, ma ha di lặc đế, lâu bả tăng kỳ đế, hê đế tỷ, tăng kỳ hê đế, tam mạn đà a tha, a nâu bà la ni.                                                                        o

Nam-mô Ly-cấu địa Bồ-Tát ma-ha-tát. (3 lượt) ooo

 

VĂN PHÁT NGUYỆN

Kính lậy Tam giới Tôn

Quy mệnh mười phương Phật

Con nay phát nguyện lớn

Trì tụng Kinh Phổ-Môn

Trên đền bốn trọng ân

Dưới cứu ba đường khổ

Nếu có ai thấy, nghe

Đều phát tâm Bồ-đề

Hết một báo thân này

Sinh về nước Cực-Lạc

KỆ KHAI KINH

Phép này mầu nhiệm rất cao sâu

Ức kiếp muôn đời chưa dễ gặp

Nay được thấy nghe được thụ trì

Con thề giải nghĩa Chân như Phật

Nam-mô Bản sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật. (3 lượt)

Nam-mô Linh-cảm Quán-Thế-Âm Bồ-tát Ma-ha-tát. (3 lượt)

Hơn sáu muôn lời, bẩy quyển vàng

Bao gồm diệu nghĩa rộng mênh mang

Đề-Hồ trong cổ nhuần thơm dịu

Cam-Lộ toàn thân mát nhẹ nhàng

Ngọc trắng bên răng tuôn xá-lợi

Sen hồng đầu lưỡi phóng hào quang

Cho dù tạo tội cao hơn núi

Diệu pháp trì chưa tới mấy hàng

Nam-mô Pháp-Hoa Hội thượng Phật, Bồ-tát. (3 lượt)                  

***

 

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA

PHẨM PHỔ MÔN BỒ-TÁT QUÁN-THẾ-ÂM

(Phẩm thứ Hai mươi nhăm)

Bấy giờ Bồ-tát Vô-Tận-Ý liền từ tòa ngồi đứng dậy, hở áo vai hữu, chắp tay hướng về đức Phật bạch rằng: “Bạch Đức Thế-Tôn ! Bồ-tát Quán-Thế-Âm vì nhân duyên gì gọi tên là Quán-Thế-Âm ?”Đức Phật bảo Bồ-tát Vô-Tận-Ý rằng: Này Thiện nam tử ! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sinh phải chịu mọi sự khổ não, được nghe Bồ-tát Quán-Thế-Âm đây, mà dốc lòng xưng tên Bồ-tát Quán-Thế-Âm, tức thời Bồ-tát quán xét giọng tiếng của người ấy, khiến được giải thoát. Nếu có người chuyên trì tên hiệu Bồ-tát Quán-Thế-Âm, dù vào lửa lớn, lửa không thể cháy được, là do nhờ sức uy thần của Bồ-tát .

Nếu bị nước lớn cuốn trôi, xưng tên hiệu Ngài, liền được chỗ cạn. Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sinh vì sự tìm cầu vàng, bạc, lưu-ly, xà-cừ, mã-não, san-hô, hổ-phách, trân-châu, các thứ ngọc báu…, phải vào trong bể lớn ; giả sử bị mây mù, gió dữ thổi thuyền bè trôi dạt vào nước quỷ La-Sát ; trong đó dù chỉ có đến một người xưng tên Bồ-tát Quán-Thế-Âm, thì những người trong thuyền ấy, đều được thoát khỏi tai nạn quỷ La-Sát. Vì nhân duyên ấy nên gọi là Bồ-tát Quán-Thế-Âm. Nếu lại có người sắp phải bị hại, xưng tên Bồ-tát Quán-Thế-Âm, thì dao gậy của kẻ cầm kia, liền bị gẫy nát ra từng đoạn một mà được giải thoát. Nếu trong ba nghìn Đại thiên Quốc độ, có đầy dẫy quỷ Dạ-Xoa, La-Sát, muốn đến làm não hại người, khi nghe người đó xưng tên Bồ- tát Quán-Thế-Âm, những quỷ ác La-Sát kia còn chẳng dám dùng mắt dữ nhìn người ấy, huống chi lại dám làm hại. Nếu lại có người, dù có tội hay vô tội, mà bị gông cùm xiềng xích, chằng trói nơi mình, xưng danh hiệu Bồ-tát Quán-Thế-Âm, thì xiềng xích kia thảy đều đứt nát, liền được giải thoát. Nếu trong cõi Tam Thiên Đại-Thiên, đầy rẫy giặc oán, có một người chủ lái buôn cùng với những người buôn khác, đem theo của báu quý giá, đi qua đường hiểm, trong đó có một người đề xướng lên rằng : “Các thiện nam tử ! Đừng nên sợ hãi, các ông phải nên dốc lòng niệm danh hiệu Bồ-tát Quán-Thế-Âm, vì Bồ-tát ấy hay dùng phép vô- úy ban cho chúng sinh. Nếu các ông niệm danh hiệu Ngài, sẽ được thoát khỏi nạn giặc oán này”. Các người lái buôn nghe nói thế rồi, đều cất tiếng niệm rằng : “Nam-mô Quán-Thế-Âm Bồ-tát”. Vì nhờ xưng tên Ngài, mà liền được giải thoát.

Ông Vô-Tận-Ý ! Bồ-tát Quán-Thế-Âm uy thần thế lực rộng lớn nhường ấy.

Nếu có chúng sinh nhiều lòng dâm dục, thường cung kính niệm Bồ-tát Quán-Thế-Âm, liền được lìa mọi lòng dục.

Nếu người nhiều lòng hờn giận, thường cung kính niệm Bồ-tát Quán-Thế-Âm, liền được lìa khỏi hờn giận.

Nếu nhiều ngu si, thường cung kính niệm Bồ-tát Quán-Thế-Âm, liền được lìa khỏi ngu si.

Ông Vô-Tận-Ý ! Bồ-tát Quán-Thế-Âm có uy thần thế lực lớn như thế. Ngài hay làm những việc lợi ích cho chúng sinh, vì thế nên phải một lòng nhớ niệm.

Nếu có người đàn bà nào, ví dù muốn cầu con trai, lễ bái cúng dàng Bồ-tát Quán-Thế-Âm, thì liền sinh được con trai phúc đức trí tuệ. Ví dù muốn cầu con gái, thì liền sinh được con gái có tướng đoan trang ; bởi vì trước kia đã trồng cội phúc, cho nên đều được mọi người kính mến.

Ông Vô-Tận-Ý ! Bồ-tát Quán-Thế-Âm có thần lực như thế. Nếu chúng sinh nào, cung kính lễ bái Bồ-tát Quán-Thế-Âm, thì phúc đức của người đó cũng không luống mất.

Vì thế chúng sinh đều nên thụ trì danh hiệu Bồ-tát Quán-Thế- Âm.

Ông Vô-Tận-Ý ! Nếu có người nào thụ trì danh tự của sáu mươi hai ức Hằng-hà sa Bồ-tát, lại trọn đời cúng dàng thức ăn uống, áo mặc, đồ nằm, thuốc thang, ý ông thế nào. Công đức của người thiện nam, thiện nữ ấy có nhiều chăng ?

Bồ-tát Vô-Tận-Ý bạch Phật rằng : “Bạch đức Thế-Tôn ! Công đức của người đó rất nhiều “.

Đức Phật bảo : “Nếu lại có người thụ trì danh hiệu Bồ-tát Quán- Thế-Âm, nhẫn đến một thời lễ bái cúng dàng ; công đức của hai người ấy bằng nhau không khác, dù trăm nghìn muôn ức kiếp không thể cùng tận.

Ông Vô-Tận-Ý ! Người thụ trì danh hiệu Bồ-tát Quán-Thế-Âm được lợi ích phúc đức, vô lượng vô biên như thế !”

Bồ-tát Vô-Tận-Ý bạch Phật rằng : “Bạch Đức Thế-Tôn ! Tại sao Bồ-tát Quán-Thế-Âm lại dạo chơi khắp cõi Sa-Bà này ? Tại sao Ngài vì chúng sinh dùng sức phương tiện nói Pháp ? Việc đó thế nào ?”

Đức Phật bảo Bồ-tát Vô-Tận-Ý rằng : Này Thiện nam tử ! Nếu có chúng sinh ở cõi nước nào, phải dùng thân Phật mới độ được ấy, Bồ-tát Quán-Thế-Âm liền vì họ hiện ra thân Phật mà nói Pháp.

Nên dùng thân Bích-Chi Phật mới độ được, liền vì họ hiện ra thân Bích-Chi Phật mà nói Pháp.

Nên dùng thân Thanh-Văn mới độ được, liền vì họ hiện ra thân Thanh-Văn mà nói Pháp.

Nên dùng thân Phạm-Vương mới độ được, liền vì họ hiện ra thân Phạm-Vương mà nói Pháp

Nên dùng thân Đế-Thích mới độ được, liền vì họ hiện ra thân Đế- Thích mà nói Pháp.

Nên dùng thân Trời Tự-Tại mới độ được, liền vì họ hiện ra thân Trời Tự-Tại mà nói Pháp.

Nên dùng thân Trời Đại-Tự-Tại mới độ được, liền vì họ hiện ra thân Trời Đại-Tự-Tại mà nói Pháp.

Nên dùng thân Thiên Đại-Tướng-Quân mới độ được, liền vì họ hiện ra thân Thiên Đại-Tướng-Quân mà nói Pháp.

Nên dùng thân Tỳ-Sa-Môn mới độ được, liền vì họ hiện ra thân Tỳ-Sa-Môn mà nói Pháp.

Nên dùng thân Tiểu-Vương mới độ được, liền vì họ hiện ra thân Tiểu-Vương mà nói Pháp.

Nên dùng thân Trưởng-Giả mới độ được, liền vì họ hiện ra thân Trưởng-Giả mà nói Pháp.

Nên dùng thân Cư-sĩ mới độ được, liền vì họ, hiện ra thân Cư-sĩ mà nói Pháp.

Nên dùng thân Tể-Quan mới độ được, liền vì họ hiện ra thân Tể- Quan mà nói Pháp.

Nên dùng thân Bà-la-môn mới độ được, liền vì họ hiện ra thân Bà-la-môn mà nói Pháp.

Nên dùng thân Tỷ-khiêu, Tỷ-khiêu-ni, Ưu-bà-tác, Ưu-bà-di mới độ được, liền vì họ, hiện ra thân Tỷ-khiêu, Tỷ-khiêu-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di mà nói Pháp.

Nên dùng thân phụ nữ của Trưởng-giả, Cư-sĩ, Tể-quan, Bà-la- môn mới độ được, liền vì họ hiện ra thân phụ nữ mà nói Pháp.

Nên dùng thân Đồng nam, Đồng nữ, mới độ được, liền vì họ hiện ra thân Đồng nam, Đồng nữ mà nói Pháp.

Nên dùng các thân Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca- lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhân và Phi Nhân mới độ được, đều vì họ hiện ra các thân kia mà nói Pháp.

Nên dùng thân Chấp-Kim-Cương-Thần mới độ được, liền vì họ hiện ra thân Chấp-Kim-Cương-Thần mà nói Pháp.

Ông Vô-Tận-Ý ! Bồ-tát Quán-Thế-Âm thành tựu công đức như thế, Ngài dùng hết thảy thân hình dạo đi các nước để độ thoát cho chúng sinh.

Vì thế các ông phải nên một lòng cúng dàng Bồ-tát Quán-Thế- Âm. Vì Đại Bồ-tát Quán-Thế-Âm đối với chúng sinh ở trong tai nạn nguy cấp, sợ hãi, Ngài hay ban cho phép không lo sợ, cho nên ở cõi Sa- Bà này đều gọi Ngài là bậc “Thí-Vô-Úy”.

Bồ-tát Vô-Tận-Ý bạch Phật rằng : “Bạch Đức Thế-Tôn ! Con nay xin cúng dàng Bồ-tát Quán-Thế-Âm !”. Liền cởi chuỗi ngọc bằng các châu báu nơi cổ, giá trị trăm nghìn lượng vàng, trao cho Bồ-tát Quán-Thế-Âm mà nói rằng : “Xin Ngài vui lòng nhận chuỗi ngọc chân bảo Pháp thí này !“. Khi ấy Bồ-tát Quán-Thế-Âm tạ từ không nhận.

Bồ-tát Vô-Tận-Ý lại bạch Bồ-tát Quán-Thế-Âm rằng : “Xin Ngài vì lòng thương chúng tôi mà nhận chuỗi ngọc này !”.

Bấy giờ Phật bảo Bồ-tát Quán-Thế-Âm rằng : “Ông nên thương xót Bồ-tát Vô-Tận-Ý đây, và hàng tứ chúng, Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn- thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhân và Phi Nhân..., mà nhận chuỗi ngọc.”

Tức thì Bồ-tát Quán-Thế-Âm vì lòng thương tứ chúng, Trời, Rồng, Nhân và Phi Nhân,… nhận lấy chuỗi ngọc, chia làm hai phần : một phần dâng lên Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni, một phần dâng Tháp Đức Phật Đa-Bảo.

 “Ông Vô-Tận-Ý ! Bồ-tát Quán-Thế-Âm có sức thần tự tại, hay dạo chơi khắp cõi Sa-Bà như thế đấy !”   

Khi ấy Bồ-tát Vô-Tận-Ý dùng kệ hỏi đức Phật rằng :

Thế-Tôn đủ tướng đẹp

Con nay lại hỏi Ngài

Phật tử nhân duyên gì

Tên là Quán-Thế-Âm ?

Đấng đầy đủ tướng đẹp

Kệ đáp : Vô-Tận-Ý !

Ông nghe hạnh Quán-Âm

Hay ứng khắp mọi nơi

Nguyện rộng sâu như biển

Nhiều kiếp khó nghĩ bàn

Hầu nhiều ngàn ức Phật

Phát nguyện lớn thanh tịnh

Vì ông, Ta nói qua :

Nghe tên và thấy thân

Lòng nghĩ chẳng luống qua

Hay diệt mọi nỗi khổ

Dù ai khởi ý hại

Xô xuống hầm lửa lớn

Nhờ sức niệm Quán-Âm

Hố lửa biến thành ao

Hoặc trôi dạt bể lớn

Các nạn quỷ, cá, rồng

Nhờ sức niệm Quán-Âm

Sóng cồn không chìm được

Hoặc ở đỉnh Tu-Di

Bị người xô ngã xuống

Nhờ sức niệm Quán-Âm

Như mặt trời trên không

Hoặc bị người ác đuổi

Ngã xuống núi Kim-Cương

Nhờ sức niệm Quán-Âm

Không sây sát mảy may

Hoặc bị giặc oán vây

Dầu cầm dao toan hại

Nhờ sức niệm Quán-Âm

Đều phát khởi lòng lành

Hoặc bị nạn khổ:

Vua muốn hành hình, sắp chết

Nhờ sức niệm Quán-Âm

Dao liền gẫy từng đoạn

Hoặc cầm tù xiềng xích

Tay chân bị gông cùm

Nhờ sức niệm Quán-Âm

Bỗng nhiên được giải thoát

Nguyền rủa các thuốc độc

Muốn làm hại thân mình

Nhờ sức niệm Quán-Âm

Lại trở về người ấy.

Hoặc gặp La-sát ác,

Rồng độc, các quỷ dữ

Nhờ sức niệm Quán-Âm

Thời đều không dám hại

Nếu thú dữ vây quanh

Nanh vuốt nhọn đáng sợ

Nhờ sức niệm Quán-Âm

Chúng vội chạy nơi khác

Rắn độc và bọ cạp,

Nọc độc như khói lửa

Nhờ sức niệm Quán-Âm

Nghe tiếng, chúng lánh xa.

Mây sấm sét, chớp giật

Tuôn mưa đá, mưa rào

Nhờ sức niệm Quán-Âm

Liền được trời quang tạnh.

Chúng sinh bị khốn ách

Bao nỗi khổ bức thân

Sức diệu trí Quán-Âm

Hay cứu đời thóat khổ.

Đầy đủ sức thần thông

Rộng tu trí phương tiện

Các cõi nước mười phương

Đều hiện thân khắp cả

Hết thảy các thú dữ,

Địa ngục, quỷ, súc sinh,

Khổ, sinh, già, bệnh, chết

Dần dần đều dứt hết.

Chân quán, thanh tịnh quán

Trí tuệ quán rộng lớn

Bi quán và từ quán

Thường nguyện thường chiêm ngưỡng

Sáng thanh tịnh không nhơ

Tuệ nhật phá tối tăm

Hay dẹp tai gió, lửa

Soi sáng khắp thế gian

Thể Bi ngăn sấm sét

Từ ý diệu như mây

Tuôn mưa Pháp Cam-Lộ

Dập tắt lửa phiền não.

Kiện tụng đến cửa quan

Trong quân trận sợ hãi

Nhờ sức niệm Quán-Âm

Oán thù đều tan mất.

Diệu-Âm, Quán-Thế-Âm

Phạm-Âm, Hải-Triều-Âm

Hơn tiếng thế gian kia

Vì thế nên thường niệm

Niệm niệm chớ sinh nghi

Quán-Âm bậc Tịnh-Thánh

Hay làm nơi nương tựa

Cho nạn chết, khổ não

Đủ hết thảy công đức

Mắt từ nhìn chúng sinh

Phúc tụ như biển lớn

Vì thế nên đỉnh lễ

Bấy giờ Bồ-tát Trì-Địa liền từ tòa ngồi đứng dậy, đi đến trước Phật bạch rằng : “Bạch đức Thế-Tôn ! Nếu có chúng sinh nào nghe Phẩm Quán-Thế-Âm Bồ-tát Đạo-Nghiệp-Tự-Tại Phổ-Môn thị-hiện sức thần thông này, thì nên biết công đức của người ấy không phải là ít”.

Khi Phật nói xong Phẩm Phổ Môn này, trong chúng có tám vạn bốn nghìn chúng sinh đều phát tâm Vô-thượng Chính-đẳng Chính- giác.    

 TỤNG CHÚ RẰNG:               

Án, đá lị, đá lị, đốt đá lị, đốt đốt đá lị, sa bà ha. (3 lượt)

 

LỤC TỰ ĐẠI MINH THẦN CHÚ

Úm, ma ni bát minh hồng. (7 lượt)

***

 

KINH TINH YẾU

BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA

Bồ-tát Quán-Tự-Tại

Khi quán chiếu thâm sâu

Bát-nhã Ba-la-mật

(tức Diệu-Pháp Trí-độ)

Bỗng soi thấy năm uẩn

Đều không có tự tính

Thực chứng điều ấy xong

Ngài vượt thoát tất cả

Mọi khổ đau ách nạn

Này ông Xá-Lợi-Tử !

Sắc chẳng khác gì Không

Không chẳng khác gì Sắc

Sắc chính thực là Không

Không chính thực là Sắc

Còn lại bốn uẩn kia

Cũng đều như vậy cả

Này ông Xá-Lợi-Tử !

Thể mọi pháp đều Không

Không sinh cũng không diệt

Không nhơ cũng không sạch

Không thêm cũng không bớt

Cho nên trong tính Không

Không có sắc, thụ, tưởng

Cũng không có hành, thức

Không có nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý (sáu căn)

Không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp (sáu trần)

Không có mười tám giới (từ nhãn đến ý thức)

Không hề có vô-minh

Không có hết-vô-minh

Cho đến không lão, tử

Không khổ, tập, diệt, đạo

Không trí, cũng không đắc, vì không có sở đắc

Khi một vị Bồ-tát

Nương Diệu-Pháp Trí-độ

(Bát-nhã Ba-la-mật)

Thì tâm không chướng ngại

Vì tâm không chướng ngại

Nên không có sợ hãi

Xa lìa mọi mộng tưởng

Xa lìa mọi điên đảo

Đạt Niết-Bàn tuyệt đối

Chư Phật trong ba đời

Y Diệu-Pháp Trí-độ

(Bát-nhã Ba-la-mật)

Nên đắc Vô-thượng-giác

Vậy nên phải biết rằng

Bát-nhã Ba-la-mật

Là linh chú đại-thần

Là linh chú đại-minh

Là linh chú vô-thượng

Là linh chú tuyệt-đỉnh

Là chân lý bất vọng

Có năng lực tiêu trừ

Tất cả mọi khổ nạn

Cho nên tôi muốn thuyết

Câu thần chú Trí-độ

(Bát-nhã Ba-la-mật)

Nói xong đức Bồ-tát

Liền đọc thần chú rằng :

Ga tê ga tê, pa ra ga tê, pa ra săm ga tê, Bô đi, sô va ha.

(GATE GATE, PARAGATE, PARASAMGATE BODHI SVAHA )

***

Đệ tử chúng con… vì sức nghiệp ma, tâm thần rối loạn, căn tính mê mờ, bỗng nhiên chợt nghĩ, thay đổi lung tung, dáo dở chất chồng, xem văn mờ ý, nhầm chữ sai câu ; trái với chính âm trong-đục, nệ vào tà kiến giãi bày; Hoặc vì việc đoạt mất trí, tâm chẳng để vào Kinh ; đương khi tụng-niệm dậy, ngồi ; bỏ dở câu cách quãng ; ngồi lâu trễ nải, nhân đó giận hờn; Chốn nghiêm tịnh để vương bụi nhơ, nơi kính cẩn hoặc làm cẩu thả. Thân, khẩu, mặc dùng nhếch nhác ; xiêm y lễ mạo lôi thôi. Cung chẳng như nghi, để không đúng chỗ ; mở cuốn rối ren, rớt rơi, dơ nát. Hết thảy chẳng chuyên, chẳng thành ; thật là đáng thẹn, đáng sợ. Kính xin Chư Phật, Bồ-tát, trong cõi Pháp giới hư không, hết thảy Hiền Thánh, Thiên Thần, Thiên – Long, Hộ Pháp, từ bi thương xót, sám rửa lỗi lầm, khiến cho công đức tụng kinh, đều được chu viên thành tựu.

Đệ tử chúng con… nguyện tâm hồi hướng ; còn e hoặc khi dịch nhuận lỗi lầm, hoặc lúc giải chua thiếu sót, truyền thụ sai thù, âm thích lẫn lộn ; những lỗi xét nét, đổi thay ; những lầm cắt, in, viết, chép. Dù thầy, dù thợ đều xin sám hối ; nhờ sức thần của Chư Phật khiến cho tội lỗi tiêu tan ; thường quay xe Pháp, cứu vớt hàm linh. Nguyện đem công đức trì chú tụng Kinh, hồi hướng về Hộ Pháp, Long – Thiên, Thánh chúng, Thần núi sông linh thiêng trong tam giới, vị Chủ tể thủ hộ chốn Già Lam, cầu mong được hưởng phúc thiện bình an, trang nghiêm đạo quả Vô thượng Bồ đề. Nguyện cho khắp cả Pháp giới chúng sinh, cùng được vào bể Như-Lai Pháp tính. (ooo)  

(Tiếng mõ sau cùng ở tiếng TÍNH, ăn nhịp với tiếng chuông và sang mõ, tụng tiếp ngay… )

Đức Bồ-tát Quán-Thế-Âm Đại-sĩ

Danh hiệu Ngài: Giáo chủ Viên-Thông

Mười hai nguyện lớn vô cùng

Từ bi sâu rộng mở lòng cứu nhân

Ứng theo lời tâm tâm cầu khẩn

Từ-Bi thân hiện khắp mọi nơi

Độ sinh kiếp kiếp đời đời

Dắt qua bể khổ vượt ngoài bến mê

Nam mô Quán-Thế-Âm Bồ-tát Ma-ha-tát. (3 lượt)

Nam mô Quán-Thế-Âm Bồ-tát. (1 tràng)

Nam mô Đại-Thế-Chí Bồ-tát. (10 lượt)

Nam mô Địa-Tạng-Vương Bồ-tát. (10 lượt)

Nam mô Thanh-tịnh Đại-Hải-Chúng Bồ-tát. (10 lượt)

 

***

 

LỄ MƯỜI HAI NGUYỆN

1. Kính lậy Phật Quán-Âm

Hiệu Ngài là Viên-Thông

Tên Ngài là Tự-Tại

Phát nguyện rộng mênh mông

Nam-mô Đại-bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát. (1 lễ)

 

2. Kính lậy Phật Quán-Âm

Ngài thề giữ nhất tâm

Không vướng mắc ngăn ngại

Nguyện ở miền Nam-Hải

Nam-mô Đại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát. (1 lễ)

 

3. Kính lậy Phật Quán-Âm Thề đến chốn U-minh, Ở trong cõi Sa-Bà Nghe tiếng kêu cầu xin Nguyện đến cứu khổ liền

Nam-mô Đại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát. (1 lễ)

 

4. Kính lậy Phật Quán-Âm

Thề nguyện thường hàng phục

Các tà ma, yêu quái

Gian nguy hiểm trừ sạch

Nam-mô Đại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát. (1 lễ)

 

5. Kính lậy Phật Quán-Âm

Tay cầm bình nước trong

Tay cầm cành liễu xanh

Nguyện đem nước Cam-Lộ Tẩy sạch tâm chúng sinh

Nam-mô Đại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát. (1 lễ)

 

6. Kính lậy Phật Quán-Âm

Đại từ bi, hỉ xả

Nguyện thường thực hành đúng

Đạo Vô thượng bình đẳng

Nam-mô Đại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát. (1 lễ)

 

7. Kính lậy Phật Quán-Âm Không tổn hại ngày đêm Phát nguyện thường diệt trừ Hết thảy nạn Tam đồ

Nam-mô Đại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát. (1 lễ)

 

8. Kính lậy Phật Quán-Âm Hướng về sườn núi Nam Chiêm bái lễ chuyên cần Nguyện cứu thoát hết thảy Nạn xiềng xích gông cùm

Nam-mô Đại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát. (1 lễ)

 

9. Kính lậy Phật Quán-Âm

Tạo ra chiếc thuyền Pháp Chèo bơi trên biển khổ Chúng sinh nguyện độ hết

Nam-mô Đại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát. (1 lễ)

 

10. Kính lậy Phật Quán-Âm Đằng trước có tràng-phan Đằng sau có bảo-cái Nguyện tiếp chúng sinh sang Bên Cực-Lạc phương Tây

Nam-mô Đại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát. (1 lễ)

 

11. Kính lậy Phật Quán-Âm

Ngài ở bên cảnh giới

Đức Phật Vô-Lượng-Thọ

Cầu Phật thụ ký cho

Nam-mô Đại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát. (1 lễ)

 

12. Kính lậy Phật Quán-Âm

Thân Ngài rất đoan nghiêm

Không ai so sánh kịp

Mười hai nguyện phát ra Qủa tu trọn vẹn nên

Nam-mô Đại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát. (1 lễ)

 

PHÁT NGUYỆN 

Con nay xin vì bốn ân, ba cõi Pháp giới chúng sinh, nguyện cho tam chướng tiêu trừ, dốc lòng phát nguyện. (1 lễ)

Nguyện cùng người tu tịnh hạnh, thiện nghiệp trang nghiêm, phúc trí hiện tiền. Nguyện A-Di-Đà Thế-Tôn, Quán-Âm, Thế-Chí từ bi tiếp thụ, vì con hiện thân, phóng tịnh quang minh, khiến cho chúng con, sáu căn tịch tĩnh, ba chướng tiêu trừ, vui tu tịnh hạnh, thân tâm nhuân thâm, niệm niệm không mất Tịnh-Độ thiện căn. Thường được thấy Cõi Phật A-Di-Đà vi diệu trang nghiêm, vui vẻ lòng con, khiến con tinh tấn.

 

Bao nhiêu phiền não nguyện tiêu trừ

Mười ác trói chằng nay cởi bỏ

Dục giới, sắc giới, vô sắc giới

Xin đoạn triền miên hữu lậu nhân

Nhiễm nhân, nhiễm quả, nhiễm trần duyên.

Nguyện quyết đời đời không nối tiếp

Thuận hiện, thuận tiền, thuận hậu nghiệp

Tam thế oan khiên vĩnh diệt trừ

Phá trai, phá giới, phá oai nghi

Hết thảy chí tâm cầu sám hối

Nghiệp chướng, báo chướng, phiền não chướng

Quán thân thật tướng, tính đều không Kính Phật, kính Pháp, kính Chân Tăng Thanh tịnh Pháp thân sớm huân hiển

Nam mô Đại-bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát. (3 lần)

***

HỒI HƯỚNG

Tụng Kinh công đức thù thắng hạnh

Vô biên thắng phúc, con hồi hướng

Khắp nguyện trầm nịch bao chúng sinh

Sớm về cõi Phật Quang-Vô-Lượng

Nguyện tiêu ba chướng, trừ phiền não

Nguyện được trí tuệ chân minh liễu

Khắp nguyện tội chướng đều tiêu trừ

Đời đời thường hành Bồ-tát Đạo

Nguyện sinh Tây phương Cõi Tịnh-Độ

Chín phẩm hoa sen làm cha mẹ

Hoa nở, thấy Phật, chứng vô sinh

Bất thoái Bồ-tát đồng bạn lữ

Nguyện đem công đức này

Chung cho khắp hết thảy

Chúng con và chúng sinh

Đều cùng thành đạo Phật.

***

TAM QUY Y

Con quy Phật rồi

Nguyện cho chúng sinh, thật hiểu đạo lớn, mở lòng vô thượng.

(1 lễ) o

Con quy Pháp rồi

Nguyện cho chúng sinh, thấu hiểu nghĩa Kinh, trí tuệ như bể.

(1 lễ) o

Con quy Tăng rồi

Nguyện cho chúng sinh, hợp đạo đồng tình, không gì trở ngại.

(1 lễ) ooo

 

HÒA NAM THÁNH CHÚNG

Nguyện đem công đức này

Chung cho khắp hết thảy

Chúng con và chúng sinh

Đều cùng thành đạo Phật.

(3 vái)

*

***

*

🙏 NGHI THỨC SAU KHI ĐỌC KINH, CHÚ

IV. Hậu Nghi: Phổ Nguyện Hồi Hướng

Hành giả chắp tay, đọc lời hồi hướng công đức:

"Con xin đem công đức trì tụng kinh Kinh Sách Tu Tập này, hồi hướng cho:

  1. Cửu huyền thất tổ, nội ngoại tông thân nhiều đời kiếp, nguyện ông bà cha mẹ siêu sinh Tịnh Độ.

  2. Oan gia trái chủ, những chúng sinh con vô tình hay cố ý tổn hại, nguyện hóa giải oán kết, đồng tu thiện nghiệp.

  3. Vong linh thai nhi, các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn, và thập nhị loại cô hồn nơi đất này, mong tất cả nương nhờ Phật lực, sớm thoát luân hồi.

  4. Gia đình bản thân: Cầu nguyện gia môn hưng thịnh, tai qua nạn khỏi, bệnh tật tiêu trừ, công việc hanh thông. Nguyện cho bản thân con trí tuệ khai mở, tâm bồ đề kiên cố, bền bỉ tu học, tinh tấn không lui sụt."

Phục nguyện: Nguyện khắp thế giới an lành, chúng sinh đồng đăng bỉ ngạn.

Nam Mô A Di Đà Phật. (Lạy 3 lễ rồi lui ra)