TuTap.vn • Kinh Bản Tu Trì

Kinh Sách Tu Tập

Ngày 18/09/2026 (Âm lịch: Ngày 8 tháng 8 năm 2026)

🪷 NGHI THỨC TRƯỚC KHI ĐỌC KINH, CHÚ

NGHI THỨC TRÌ TỤNG KINH Kinh Sách Tu Tập

(Dành cho hành giả tu tại gia)

I. Tiền Nghi: Khiết Tịnh & Trang Nghiêm

Trước khi bước vào đàn lễ, hành giả cần giữ cho "thân - khẩu - ý" được thanh tịnh:

  • Thân khiết tịnh: Tắm gội sạch sẽ, y phục chỉnh tề (nên mặc áo tràng lam hoặc cư sĩ).

  • Biến thông: Nếu Phật sự đa đoan, công việc bận rộn, hành giả tối thiểu phải súc miệng, rửa mặt, đôi tay sạch sẽ. Quan trọng nhất là gạt bỏ tạp niệm, giữ tâm ý nhẹ nhàng trước khi an tọa.

  • Đàn tràng: Chọn nơi yên tĩnh, lau dọn bàn kinh sạch sẽ. Nếu có bàn thờ Phật, hãy thắp đèn nến sáng sủa.

II. Pháp Sự Bắt Đầu

Bước 1: Thượng Hương (Dâng Hương)

Hành giả quỳ thẳng, dâng hương ngang trán, tâm quán tưởng khói hương xông thấu mười phương cõi Phật.

Khấn nguyện: "Nguyện đem lòng thành kính, gửi theo đám mây hương. Phảng phất khắp mười phương, cúng dường ngôi Tam Bảo. Thề trọn đời giữ đạo, theo tự tính làm lành. Cùng pháp giới chúng sinh, đồng vãng sinh Cực Lạc."

(Cắm hương vào lư, đảnh lễ Tam Bảo 3 lễ)

Bước 2: Phục Nguyện & Phát Nguyện

Hành giả chắp tay trang nghiêm, đọc lời tác bạch (có thể đọc thầm hoặc đọc thành tiếng nhỏ):

Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

Hôm nay là ngày: ngày.....tháng..... năm 2026 Dương Lịch hoặc ngày...tháng... năm 2026 Âm Lịch

Đệ tử con tên là: ………… (Pháp danh: …………)

Ngụ tại: ………………………………………………

Giờ này, con xin phát tâm chí thành trì tụng kinh Kinh Sách Tu Tập

Ngưỡng thỉnh:

  • Mười phương Chư Phật, chư Đại Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng.

  • Chư vị Thiên Long Bát Bộ, Hộ Pháp Thiện Thần. Xin quang giáng đàn tràng, chứng minh công đức, gia hộ cho đệ tử thân tâm định tĩnh, trí tuệ sáng suốt để việc trì tụng được viên mãn.

Cẩn cáo cung thỉnh:

  • Nội ngoại Gia tiên, Cửu Huyền Thất Tổ dòng họ ………

  • Chư vị Thần linh bản xứ, tiền chủ hậu chủ nơi đất này.

  • Chư vị Oan gia trái chủ, hữu danh vô vị, hữu vị vô danh trong nhiều đời nhiều kiếp.

Nguyện xin cùng vân tập về đây, nương nhờ uy lực của Phật Pháp, lắng nghe kinh văn, khai tâm mở trí, lìa khổ u minh, đồng hướng về nẻo giác, vãng sinh cõi lành.

Đảnh lễ (Trì tụng danh hiệu):

  • Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần - Mỗi lần 1 lạy để tiêu trừ nghiệp chướng trước khi đọc kinh)

  • Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần - Để tương ưng với bản nguyện)

  • Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần - Để nhờ ngài tiếp dẫn các hương linh)

III. Chính Nghi: Trì Tụng Kinh Văn Kinh Sách Tu Tập

  • Tâm thế: Đọc rõ ràng, rành mạch, không cần quá nhanh. Tâm đặt vào lời kinh (Tâm lưu xuất, nhĩ lắng nghe).

  • Linh hoạt:

    • Nếu có thời gian: Tụng trọn bộ (Toàn kinh).

    • Nếu bận rộn: Có thể chia theo Phẩm để tụng.

    • Khi có việc đột xuất: Đọc đến hết một Phẩm, xá ba xá, đánh dấu trang kinh.

Lời tác bạch khi tạm dừng: "Nay đệ tử có duyên sự (hoặc sức khỏe), xin tạm dừng việc trì tụng Kinh Sách Tu Tập tại đây. Nguyện đem lòng thành kính này giữ trọn, mai sau tiếp tục hành trì cho đến khi viên mãn."

📖 Kinh Sách Tu Tập — CHÍNH VĂN TOÀN BỘ

  PHẦN NGHI LỄ      

(Mọi người cùng tề chỉnh y phục, chắp tay đọc)

Chủ lễ đọc: Nhất thiết cung kính...

Đại chúng hòa: Nhất tâm kính lễ Tam Bảo thường trụ khắp cả mười phương. (3 lần) ooo

(Chủ lễ đọc)

Đại chúng ai nấy, hết thảy đều quỳ, nghiêm trì hương hoa, như pháp cúng dàng, cúng dàng Tam Bảo thường trụ ở khắp mười phương Pháp giới. (1 lễ) ooo

Nguyện mây hương, mây hoa này

Biến khắp mười phương Pháp giới

Cùng hết thảy quốc độ Phật

Hương trang nghiêm nhiều vô lượng

Làm đầy đủ đạo Bồ Tát

Để thành tựu hương Như Lai. o

Cúng dàng rồi - Nhất thiết cung kính:

Nhất tâm kính lễ Tam Bảo thường trụ khắp cả mười phương. (1 lễ) ooo

 

TÁN PHẬT

  Sắc thân Như Lai đẹp

  Thế gian không ai bằng

Chẳng sánh, chẳng nghĩ bàn

Nên nay con đỉnh lễ

Tướng Phật đẹp vô cùng

Trí tuệ Phật cũng thế

Tất cả Pháp thường trụ

Vì thế con quy y

Trí lớn, nguyện lực lớn

Ðộ khắp cả quần sinh

Khiến bỏ thân nóng khổ

Sinh sang nước mát vui

Nay con sạch ba nghiệp

Quy y và lễ tán

Nguyện con cùng chúng sinh

Ðồng sinh về Tịnh Ðộ.

Án phạ nhật la vật. (3 biến)

Chí tâm Quy mạng lễ U Minh Giáo Chủ Bản Tôn Địa Tạng Bồ Tát Ma ha tát.           

  

 Lạy đức từ bi đại Giáo chủ 

“Địa” là dày chắc, “Tạng” chứa đủ

Cõi nước Phương Nam nổi mây thơm

Rưới hương, rưới hoa, hoa vần vũ

Mây xinh, mưa báu số không lường

Lành tốt, trang nghiêm cảnh dị thường

Người, Trời bạch Phật: Nhân gì thế

Phật rằng: Địa Tạng đến Thiên đường

Chư Phật ba đời đồng khen chuộng

Mười phương Bồ Tát chung tin tưởng

Nay con sẵn có thiện nhân duyên

Ngợi khen Địa Tạng đức vô thượng

Lòng từ do chứa hạnh lành

Trải bao số kiếp độ sinh khỏi nàn

Trong tay đã sẵn gậy vàng 

Dộng tan cửa ngục cứu toàn chúng sinh

Tay cầm châu sáng tròn vành

Hào quang soi khắp ba nghìn

Đại Thiên Diêm Vương trước điện chẳng hiền

Đài cao nghiệp cảnh soi liền tội căn

Địa Tạng Bồ Tát thượng nhân

Chứng minh công đức của dân Diêm Phù

 

CHÍ TÂM ĐỈNH LỄ

Nam mô Đại Bi, Đại Nguyện, Đại Thánh, Đại Từ, Bản Tôn Địa Tạng Bồ Tát Ma ha tát.  (3 lần) o

Con nay xin vì Bốn ân, Ba cõi Pháp giới chúng sinh, nguyện cho ba chướng tiêu trừ, dốc lòng sám hối.  ooo

 

CHÍ TÂM SÁM HỐI (Đều quỳ đọc)

Con xưa đã tạo bao nghiệp ác

Đều vì vô thỉ tham, sân, si Từ thân, miệng, ý phát sinh ra Hết thảy con nay đều sám hối. Bao nhiêu nghiệp chướng sâu nhường ấy

Thảy đều tiêu diệt sạch làu làu

Niệm niệm trí soi khắp Pháp giới

Độ hết chúng sinh đều chẳng thoái.  

 

 BÀI TÁN HƯƠNG 

(Đại chúng bình tọa, khởi mõ tụng)

Lư trầm vừa đốt

Pháp giới thơm lừng

Xa đưa Hải Hội Phật đều mừng

Đâu đâu cũng thấy cát tường vân

Thành ý ân cần

Chư Phật hiện toàn thân.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma ha tát. (3 lần) o

 

TỊNH KHẨU NGHIỆP CHÂN NGÔN

Tu lị tu lị ma ha tu lị tu tu lị tát bà ha. (3 biến) o

 

TỊNH THÂN NGHIỆP CHÂN NGÔN

Tu đa lị, tu đa lị, tu ma lị, sa bà ha.

 

TỊNH TAM NGHIỆP CHÂN NGÔN

Án, sa phạ bà phạ, truật đà sa phạ,

đạt ma sa phạ, bà phạ truật độ hám. (3 biến) o

 

AN THỔ ĐỊA CHÂN NGÔN

Nam mô tam mãn đá một đà nẫm.

Án, độ rô, độ rô địa vĩ tát bà ha. (3 biến) o

 

PHỔ CÚNG DÀNG CHÂN NGÔN

Án, nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật la hộc.  (3 biến) o

 

KỆ KHAI KINH

Pháp này màu nhiệm rất cao sâu

Ức kiếp muôn đời chưa dễ gặp

Nay được thấy nghe, nguyện thụ trì

Con thề giải nghĩa Chân như Phật.

Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 biến) ooo  

 

 

KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BẢN NGUYỆN

QUYỂN THƯỢNG PHẨM THỨ NHẤT

THẦN THÔNG TRÊN CUNG TRỜI ÐAO LỢI

Tôi nghe như vầy: Một thuở nọ, tại cung trời Ðao Lợi, Ðức Phật vì Thánh Mẫu mà thuyết Pháp. Lúc ấy, không thể nói hết, không thể nói hết tất cả Chư Phật và Ðại Bồ Tát trong vô lượng thế giới ở mười phương đều đến hội họp, cùng khen ngợi rằng: “Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể ở trong đời ác Ngũ Trược mà hiện sức Ðại Trí Tuệ, Thần Thông không thể nghĩ bàn, để điều phục những chúng sinh cang cường, khiến cho họ rõ Pháp khổ, Pháp vui”. Rồi các Chư Phật đều sai thị giả vấn an Ðức Thế Tôn. Bấy giờ, Ðức Như Lai mỉm cười, phóng ra trăm nghìn muôn ức vầng mây sáng rỡ to lớn, như vầng mây sáng Ðại Viên Mãn, vầng mây sáng Ðại Từ Bi, vầng mây sáng Ðại Trí Tuệ, vầng mây sáng Ðại Bát Nhã, vầng mây sáng Ðại Tam Muội, vầng mây sáng Ðại Cát Tường, vầng mây sáng Ðại Phúc Ðức, vầng mây sáng Ðại Công Ðức, vầng mây sáng Ðại Quy Y, vầng mây sáng Ðại Tán Thán. Ðức Phật phóng ra vầng mây sáng rỡ như thế, không thể nói hết, rồi lại phát ra vô số âm thanh vi diệu, như tiếng Bố Thí độ, tiếng Trì Giới độ, tiếng Nhẫn Nhục độ, tiếng Tinh Tấn độ, tiếng Thiền Định độ, tiếng Bát Nhã độ, tiếng Từ Bi, tiếng Hỷ Xả, tiếng Giải Thoát, tiếng Vô Lậu, tiếng Trí Tuệ, tiếng Ðại Trí Tuệ, tiếng Sư Tử Hống, tiếng Ðại Sư Tử Hống, tiếng Mây Sấm, tiếng Mây Sấm Lớn. Khi Ðức Phật phát ra, không thể nói hết, không thể nói hết âm thanh vi diệu đó xong, thời có vô lượng ức Thiên, Long, Quỷ, Thần từ thế giới Sa Bà và các cõi nước phương khác, cũng đến tụ tập tại Trời Ðao Lợi. Ðó là thiên chúng trời Tứ Thiên Vương, trời Ðao Lợi, trời Tu Diệm Ma, trời Ðâu Suất Ðà, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại, trời Phạm Chúng, trời Phạm Phụ, trời Ðại Phạm, trời Thiểu Quang, trời Vô Lượng Quang, trời Quang Âm, trời Thiểu Tịnh, trời Vô Lượng Tịnh, trời Biến Tịnh, trời Phúc Sinh, trời Phúc Ái, trời Quảng Quả, trời Vô Tưởng, trời Vô Phiền, trời Vô Nhiệt, trời Thiện Kiến, trời Thiện Hiện, trời Sắc Cứu Kính, trời Ma Hê Thủ La, cho đến trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Tất cả Thiên chúng, Long chúng, cùng các chúng Quỷ, Thần đều đến hội họp.

 Lại có những vị Thần ở thế giới Sa Bà cùng các cõi nước phương khác, như Thần biển, Thần sông, Thần rạch, Thần cây, Thần núi, Thần đất, Thần suối và ao đầm, Thần cây con và hạt giống, Thần ngày, Thần đêm, Thần hư không, Thần trên trời, Thần ăn uống, Thần cỏ cây và gỗ… các Thần như thế đều đến hội họp. Lại có chư đại Quỷ Vương ở cõi Sa Bà cùng các cõi nước phương khác, như Ác Mục Quỷ Vương, Ðạm Huyết Quỷ Vương, Ðạm Tinh Khí Quỷ Vương, Ðạm Thai Noãn Quỷ Vương, Hành Bệnh Quỷ Vương, Nhiếp Ðộc Quỷ Vương, Từ Tâm Quỷ Vương, Phúc Lợi Quỷ Vương, Ðại Ái Kính Quỷ Vương... vô số Quỷ Vương như thế đều đến hội họp. Bấy giờ Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Đại Bồ Tát rằng: “Ông xem tất cả Chư Phật, Bồ Tát và Trời, Rồng, Quỷ, Thần ở trong thế giới này cùng thế giới khác, quốc độ này cùng quốc độ khác, nay đều đến hội họp tại cung trời Ðao Lợi như thế, Ông có biết được số bao nhiêu chăng?”. Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Nếu dùng thần lực của con để tính đếm trong nghìn kiếp, cũng không thể nào biết được!”. Ðức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi: “Ngay như Ta dùng Phật Nhãn xem hãy còn không đếm xiết! Số Thánh, Phàm này đều do Ðịa Tạng Bồ Tát từ kiếp lâu xa đến nay, đã độ, đang độ, chưa độ, hoặc đã thành tựu, đang thành tựu, chưa thành tựu”. Văn Thù Sư Lợi bạch Đức Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Từ thuở lâu xa về trước con đã tu căn lành, chứng được Trí Vô Ngại, nghe lời Phật nói đó con thời tin nhận liền. Còn hàng Tiểu Quả Thanh Văn, Thiên Long, Bát Bộ, và những chúng sinh đời sau, dẫu nghe lời thành thật của Như Lai, nhưng chắc sinh lòng nghi ngờ, dù có lạy vâng đi nữa cũng chưa tránh khỏi hủy báng. Cúi mong Thế Tôn nói rõ Ðịa Tạng Bồ Tát Ma ha tát ở nơi nhân địa đã tu hạnh gì, lập nguyện gì mà thành tựu được sự không thể nghĩ bàn như thế?”. Ðức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi: “Ví dụ trong cõi Tam Thiên Ðại Thiên thế giới có bao nhiêu cỏ, cây, lùm, rừng, lúa, đay, tre, lau, núi, đá, bụi…, cứ mỗi vật là một số, mỗi số là một sông Hằng; rồi cứ số cát trong mỗi sông Hằng, mỗi hạt cát làm một cõi; rồi trong mỗi cõi, cứ lấy mỗi hạt bụi là một kiếp; rồi bao nhiêu số bụi chứa trong mỗi kiếp đều đem làm kiếp cả; thì từ lúc Ðịa Tạng Bồ Tát chứng quả vị Thập Ðịa đến nay, nghìn lần lâu hơn số kiếp tỷ dụ ở trên, huống là từ những thuở Ðịa Tạng Bồ Tát còn ở bậc Thanh Văn và Bích Chi Phật!”. Này Văn Thù Sư Lợi! Oai thần thệ nguyện của Bồ Tát đó không thể nghĩ bàn đến được. Về đời sau này, nếu có kẻ thiện nam, người thiện nữ nào, nghe thấy danh tự của Bồ Tát, rồi hoặc tán thán, hoặc chiêm lễ, hoặc xưng niệm danh hiệu, cúng dàng, cho đến tô vẽ, chạm khắc, tạc đúc, sơn thếp hình tượng, thì người ấy sẽ được một trăm lần sinh lên cõi trời Đao Lợi, vĩnh viễn chẳng còn bị đọa vào chốn ác đạo. Này Văn Thù Sư Lợi! Không thể nói hết, không thể nói hết số kiếp lâu xa về trước, tiền thân của Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát là con trai của một đại Trưởng giả. Thuở đó, trong đời có Phật hiệu là Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai. Bấy giờ, con trai của vị Trưởng giả xem thấy Ðức Phật tướng mạo tốt đẹp, nghìn phúc trang nghiêm, bèn bạch hỏi Ðức Phật đó tu hạnh nguyện gì mà được tướng mạo như thế. Khi ấy, Ðức Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai bảo con trai của vị Trưởng giả: “Muốn chứng được thân tướng này, cần phải lâu đời độ thoát tất cả những chúng sinh bị khốn khổ”. Này Văn Thù Sư Lợi! Bấy giờ, con trai của vị Trưởng giả nhân đó liền phát nguyện rằng: Từ nay cho đến tận vị lai kiếp, chẳng thể tính đếm về sau, tôi sẽ vì những chúng sinh tội khổ ở trong sáu đường mà rộng lập nhiều phương tiện, làm cho họ được giải thoát tất cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật. Bởi đã ở trước Ðức Phật mà lập đại nguyện như thế, cho nên đến nay đã trăm nghìn vạn ức na do tha kiếp, không thể nói hết, mà Ngài vẫn còn làm Bồ Tát. Lại không thể nghĩ bàn vô số kiếp về trước, thuở đó trong đời có Đức Phật hiệu là Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai; Ðức Phật ấy thọ mạng bốn trăm nghìn muôn ức A tăng kỳ kiếp. Trong thời Tượng Pháp, có người con gái dòng Bà La Môn nhiều đời tích phúc sâu dày, được mọi người đều kính nể, đi đứng nằm ngồi luôn được chư Thiên thường theo hộ vệ; song bà mẹ của người lại tin theo tà đạo, thường khinh chê ngôi Tam Bảo. Thuở ấy, mặc dầu Thánh Nữ lập nhiều phương tiện để khuyến dụ mẹ, hầu làm bà sinh chính kiến, nhưng bà chưa tin; và chẳng bao lâu thì bà mệnh chung, thần hồn đọa vào địa ngục Vô Gián. Lúc đó, Thánh Nữ dòng Bà La Môn biết rằng bà mẹ khi sống không tin nhân quả, ắt phải theo nghiệp mà vào đường ác, bèn bán nhà, đất, sắm nhiều hương, hoa, cùng đồ lễ cúng, đem đến chùa tháp thờ Phật mà làm lễ cúng dàng. Trong ngôi chùa kia, trông thấy hình tượng của Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai đắp vẽ oai dung đủ cách tôn nghiêm, Thánh Nữ chiêm lễ tôn dung, lòng càng bội phần kính ngưỡng, tự nghĩ thầm rằng: “Ðức Phật là đấng Ðại Giác đầy đủ tất cả trí tuệ. Nếu Phật còn trụ ở đời, thì sau khi mẹ tôi mất, tôi đến bạch hỏi Đức Phật, tất biết được nơi mẹ tôi thác sinh!”. Lúc ấy, Thánh Nữ buồn tủi cúi đầu rơi lệ, rồi lại chiêm ngưỡng tôn tượng Như Lai, quyến luyến rất lâu. Bỗng nghe trên không có tiếng bảo rằng: “Này Thánh Nữ đang khóc kia, thôi đừng bi ai quá lắm! Nay Ta sẽ bảo cho biết chỗ thác sinh của mẹ ngươi!”. Thánh Nữ chắp tay hướng lên hư không bạch rằng: “Chẳng hay đức Thần nào đã giải bớt nỗi khổ sầu lo của con như thế? Từ khi mẹ mất đến nay, lòng con ngày đêm thương nhớ, không biết tìm đâu để hỏi cho rõ mẹ con thác sinh chốn nào”. Bấy giờ, từ trên hư không lại có tiếng bảo Thánh Nữ rằng: “Ta Ðức Phật quá khứ Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai mà ngươi đang chiêm lễ đó. Thấy ngươi thương nhớ mẹ hơn thường tình của các chúng sinh, nên nay Ta đến chỉ bảo”. 

 Thánh Nữ nghe nói xong liền ngã xuống đất, tay chân mình mẩy đều bị tổn thương; những người ở cạnh bên liền đỡ dậy. Lát sau Thánh Nữ tỉnh lại, rồi bạch lên hư không rằng: “Cúi xin Ðức Phật từ bi thương xót, bảo ngay con rõ chỗ thác sinh của mẹ con, nay thân tâm của con sắp chết mất!”. Lúc ấy, Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai bảo Thánh Nữ rằng: “Cúng dàng xong, ngươi hãy mau về nhà, rồi ngồi ngay thẳng nghĩ tưởng danh hiệu của Ta, thời sẽ biết được chỗ thác sinh của mẹ ngươi”. Bấy giờ, chiêm lễ Phật xong Thánh Nữ liền trở về nhà. Vì nhớ thương mẹ, nên Thánh Nữ ngồi ngay thẳng niệm danh hiệu của Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai. Trải suốt một ngày một đêm, Thánh Nữ bỗng thấy mình đến một bờ biển kia, nước trong biển sôi sùng sục, rất nhiều thú dữ thân thể toàn bằng sắt bay nhảy trên mặt biển, chạy rảo bên này, xua đuổi bên kia; và thấy những trai cùng gái, số nhiều đến trăm nghìn muôn, thoạt chìm thoạt nổi trong biển, bị các thú dữ giành nhau ăn thịt. Lại thấy vô số Dạ Xoa hình thù lạ lùng nhiều tay, nhiều mắt, nhiều chân, nhiều đầu..., răng nanh chìa ra ngoài miệng, bén nhọn như gươm, đang lùa những người phạm tội đến gần thú dữ. Rồi chúng chụp bắt, túm quắp đầu chân người tội với nhau, hình trạng muôn thứ, chẳng dám nhìn lâu. Khi ấy, Thánh Nữ dòng Bà La Môn nhờ nương sức niệm Phật nên tự nhiên không hề kinh sợ. Có một Quỷ Vương tên là Vô Ðộc, đi đến cúi đầu nghênh tiếp, hỏi Thánh Nữ rằng: “Lành thay, Bồ Tát! Do duyên sự gì mà Ngài tìm đến chốn này?”. Thánh Nữ hỏi Quỷ Vương rằng: “Ðây là chốn nào?”. Vô Ðộc đáp rằng: “Ðây là tầng biển thứ nhất nằm ở phía Tây núi Ðại Thiết Vi.”. Thánh Nữ hỏi rằng: “Tôi nghe trong núi Thiết Vi còn có địa ngục, việc ấy có thật thế chăng?” Vô Ðộc đáp rằng: “Thật có địa ngục!”. Thánh Nữ hỏi rằng: “Nay tôi làm sao đến được chốn địa ngục đó?”. Vô Ðộc đáp rằng: “Nếu không phải sức oai thần, thì cần phải do nghiệp lực. Ngoài hai điều này, ắt không bao giờ có thể đến được”. Thánh Nữ lại hỏi: “Do duyên cớ gì mà nước trong biển này sôi sùng sục, và có những người tội, cùng các thú dữ như thế?”. Vô Ðộc đáp rằng: Ðây là những chúng sinh tạo ác ở cõi Diêm Phù Ðề mới chết, đã quá bốn mươi chín ngày không người kế tự để làm công đức hầu cứu vớt khổ nạn cho; lúc sống, họ lại không làm được chút nhân lành nào cả; vì thế nên theo bản nghiệp mà chiêu cảm lấy địa ngục, tự nhiên họ phải lội qua biển này trước tiên. Cách xa biển này mười vạn do tuần về phía Ðông lại có một biển, những sự thống khổ ở đó còn nhiều gấp bội chốn này. Phía Ðông biển đó lại có một biển nữa, thống khổ ở đó lại càng nhiều hơn. Đó đều là do ác nhân của Tam Nghiệp cảm vời ra, và gọi chung là biển nghiệp, chính là ở chốn này vậy. Thánh Nữ lại hỏi Quỷ Vương Vô Ðộc: “Ðịa ngục ở đâu?” Vô Ðộc đáp rằng: “Ở trong ba cái biển đó đều là những địa ngục, nhiều đến trăm nghìn, mỗi ngục đều có khác nhau. Về địa ngục lớn, có mười tám chỗ; bậc tiếp kế đó có năm trăm chỗ, đủ không lường sự khổ sở; bậc tiếp kế nữa có đến nghìn trăm, cũng đầy thống khổ không thể lường được”. Thánh Nữ lại hỏi Ðại Quỷ Vương rằng: “Thân mẫu của tôi mới mất gần đây, song không rõ thần hồn của người phải sa vào chốn nào?”. Quỷ Vương hỏi Thánh Nữ rằng: “Thân mẫu của Bồ Tát khi còn sống, thường quen làm những nghiệp gì?”. Thánh Nữ đáp rằng: “Thân mẫu của tôi tà kiến, khinh chê Tam Bảo, hoặc có lúc tạm tin, nhưng rồi cũng chẳng kính; dầu đã khuất không bao lâu, mà tôi chưa rõ thác sinh về đâu”. Vô Ðộc hỏi rằng: ‘‘Thân mẫu của Bồ Tát đây, tên họ là gì?’’. Thánh Nữ đáp rằng: ‘‘Thân phụ và thân mẫu tôi đều dòng dõi Bà La Môn. Thân phụ của tôi hiệu là Thi La Thiện Kiến, thân mẫu tôi tên là Duyệt Ðế Lợi”. Vô Ðộc chắp tay thưa Bồ Tát rằng: ‘‘Xin Thánh Giả hãy trở về, và chớ thương nhớ buồn rầu quá nữa. Tội nữ Duyệt Ðế Lợi được sinh lên cõi Trời, đến nay đã ba ngày rồi. Nghe nói nhờ được con gái của bà có lòng hiếu thuận, vì mẹ mà thiết cúng để tu phúc, và đã cúng dàng chùa tháp thờ Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai. Chẳng phải chỉ thân mẫu của Bồ Tát được thoát rời khỏi địa ngục, mà ngày đó những tội nhân Vô Gián cũng được an lạc, đều đồng được thác sinh cả”. Nói xong, Quỷ Vương chắp tay chào Thánh Nữ mà cáo lui. Thánh Nữ dòng Bà La Môn chiêm bao chợt tỉnh, rõ biết các việc, bèn đối trước tháp tượng của Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai mà lập hoằng thệ nguyện rằng: Con nguyện từ nay cho đến tận vị lai kiếp, sẽ vì những chúng sinh mắc tội khổ mà rộng lập nhiều phương tiện, khiến họ đều được giải thoát. Ðức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi: “Quỷ Vương Vô Ðộc ngày trước, nay chính là Ngài Tài Thủ Bồ Tát; còn Thánh Nữ Bà La Môn, nay Ðịa Tạng Bồ Tát đó vậy”. 

 

PHẨM THỨ HAI

PHÂN THÂN TẬP HỘI

Lúc đó, phân thân của Ðịa Tạng Đại Bồ Tát từ các nơi có địa ngục trong trăm nghìn muôn ức, không thể nghĩ, không thể bàn, không thể tính đếm, không thể nói hết, vô lượng vô số thế giới, đều đến hội tại cung trời Ðao Lợi. Do nhờ thần lực của Ðức Như Lai, các phân thân đó từ mỗi phương cõi hợp cùng những chúng đã được giải thoát khỏi chốn nghiệp đạo, cũng đông đến số nghìn muôn ức na do tha, đồng cầm hương hoa đến cúng dàng Phật. Những chúng cùng đến ấy thảy đều nhờ Ðịa Tạng Bồ Tát giáo hóa, làm cho trụ ở nơi Đạo Vô thượng Chính Đẳng Chính Giác, vĩnh viễn không còn thoái chuyển. Những chúng sinh này, nhiều kiếp lâu xa đến nay, trôi lăn trong vòng sinh tử, chịu báo khổ trong sáu đường, không lúc nào tạm ngừng dứt. Nhờ lòng từ bi quảng đại, thệ nguyện thâm sâu của Ðịa Tạng Bồ Tát, nên tất cả đều chứng được Đạo quả. Khi đến được nơi cung trời Ðao Lợi, lòng họ vui mừng hớn hở chiêm ngưỡng Ðức Như Lai, mắt nhìn mãi không rời. Bấy giờ, Ðức Thế Tôn đưa cánh tay sắc vàng xoa đỉnh các hóa thân của Ðịa Tạng Bồ Tát trong trăm nghìn vạn ức không thể nghĩ, không thể bàn, không thể tính đếm, không thể nói hết, vô lượng vô số thế giới, rồi Đức Thế Tôn dạy rằng: Ta trong đời ác Ngũ Trược giáo hóa những chúng sinh cang cường như thế, làm cho lòng chúng điều phục, bỏ tà về chính; nhưng trong mười phần, vẫn còn có một hai phần quen theo thói ác. Ta cũng phân ra nghìn trăm ức thân, rộng lập ra nhiều phương tiện. Hoặc có kẻ có lợi căn, nghe thấy rồi liền tín thọ; hoặc có kẻ có thiện quả, phải ân cần khuyên bảo mới thành tựu; hoặc có những kẻ ám độn, phải giáo hóa thời lâu mới quay về; hoặc có những kẻ nghiệp nặng, chẳng hề sinh lòng kính ngưỡng; Ta bèn phân ra nhiều thân để độ những hạng chúng sinh mỗi mỗi sai khác như thế. Hoặc hiện ra thân người nam, hoặc hiện ra thân người nữ; hoặc hiện thân Trời, Rồng; hoặc thân Quỷ, Thần; hoặc núi, hoặc rừng, nguồn sông, đồng bằng, sông rạch, ao hồ, khe suối, giếng nước, để làm sự lợi ích cho con người, khiến tất cả được độ thoát.

Hoặc hiện ra thân Thiên Ðế, hoặc hiện ra thân Phạm Vương, thân Chuyển Luân Vương, hoặc thân Cư Sĩ, hoặc thân Quốc Vương, hoặc thân Tể Phụ, hoặc thân các hàng quan thuộc, hoặc thân Tỷ Khiêu, Tỷ Khiêu Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, cho đến các thân Thanh Văn, La Hán, thân Bích Chi Phật, Bồ Tát... để hóa độ cho chúng sinh; chẳng phải chỉ hiện ra thân Phật trước chúng thôi đâu! Địa Tạng! Ông xem Ta trải qua biết bao nhiêu số kiếp cần cù khó nhọc độ thoát cho những chúng sinh cang cường mang đầy tội khổ, khó khai hóa như thế đấy. Còn kẻ chưa được điều phục, thì phải theo nghiệp mà chịu báo ứng. Nếu họ bị đọa vào các đường dữ và chịu nhiều sự thống khổ, thì Ông nhớ nghĩ đến Ta ở trời Ðao Lợi ân cần phó chúc, mà làm cho chúng sinh ở thế giới Sa Bà đến lúc Ðức Phật Di Lặc xuất thế đều được độ thoát, xa lìa vĩnh viễn mọi khổ, được gặp Phật và được Phật thọ ký”. Bấy giờ, các hóa thân của Ðịa Tạng Bồ Tát ở các thế giới hợp lại thành một, rơi lệ thương cảm mà bạch Phật rằng: Từ kiếp lâu xa đến nay, con nhờ Thế Tôn tiếp độ dắt dìu, khiến con có được thần lực chẳng thể nghĩ bàn, đầy đủ trí tuệ rộng lớn. Các phân thân của con thị hiện ở khắp trăm nghìn muôn ức thế giới nhiều như cát sông Hằng; trong mỗi thế giới, hóa trăm nghìn muôn ức thân, mỗi một thân đó hóa độ trăm nghìn muôn ức chúng sinh, khiến họ quy kính Tam Bảo, vĩnh viễn xa lìa sinh tử, đến được Niết Bàn an lạc. Những chúng sinh nào ở trong Phật Pháp, dù chỉ làm việc phúc lành bằng một sợi lông, bằng một giọt nước, hạt cát, hạt bụi, hoặc mảy lông tơ, con đều độ thoát lần lần, cho họ được lợi ích lớn. Cúi mong Thế Tôn đừng vì chúng sinh ác nghiệp đời sau sinh nặng lòng lo lắng! Ngài bạch cùng Ðức Thế Tôn ba lần như thế. Lúc ấy, Ðức Phật khen ngợi Ðịa Tạng Bồ Tát: “Lành thay! Lành thay! Ta hỗ trợ cho những điều Ông muốn để Ông thành tựu các hoằng thệ nguyện đã lập từ kiếp lâu xa đến nay. Việc quảng độ xong, Ông liền chứng quả Bồ Ðề”.

 

  

 PHẨM THỨ BA 

QUÁN CHÚNG SINH NGHIỆP DUYÊN

Lúc đó, Phật Mẫu Ma Da Phu Nhân cung kính chắp tay hỏi Ðịa Tạng Bồ Tát rằng: “Thánh Giả! Chúng sinh trong cõi Diêm Phù tạo nghiệp sai khác, cảm thọ sự báo ứng như thế nào?”. Ngài Ðịa Tạng đáp: “Trong nghìn muôn thế giới cho đến các quốc độ, nơi có địa ngục hoặc không địa ngục, nơi có người nữ hoặc không người nữ, nơi có Phật Pháp hoặc không Phật Pháp, đến cả Thanh Văn và Bích Chi Phật cũng đều như thế, chứ chẳng riêng tội báo nơi địa ngục thôi đâu!”. Ma Da Phu Nhân lại bạch cùng Địa Tạng Bồ Tát rằng: “Nay tôi muốn nghe về tội báo trong cõi Diêm Phù Đề, chiêu cảm ác đạo thế nào?”. Ngài Ðịa Tạng đáp rằng: “Thánh Mẫu! Mong Ngài lắng nghe nhận lấy, tôi sẽ lược nói việc đó”. Phật Mẫu bạch rằng: “Xin Thánh giả nói rõ cho”. Bấy giờ Ðịa Tạng Bồ Tát nói với Thánh Mẫu: Danh hiệu của những tội báo trong cõi Nam Diêm Phù Ðề như vầy: Như có chúng sinh chẳng hiếu thảo với cha mẹ, cho đến giết hại cha mẹ, kẻ đó phải đọa địa ngục Vô Gián nghìn muôn ức kiếp, không lúc nào mong ra được. Nếu chúng sinh nào làm cho thân Phật chảy máu, hủy báng Tam Bảo, chẳng biết kính tôn Kinh điển, kẻ đó cũng phải đọa vào địa ngục Vô Gián nghìn muôn ức kiếp, không lúc nào mong ra được. Nếu chúng sinh xâm tổn của Thường Trụ, làm điều nhơ nhuốc Tăng Ni, tứ tình dâm loạn trong chốn chùa chiền, hoặc giết hoặc hại; những chúng sinh đó phải đọa địa ngục Vô Gián nghìn muôn ức kiếp, không lúc nào mong ra được. Nếu có chúng sinh giả làm Sa Môn mà tâm chẳng phải Sa Môn, phá hoại, hoặc lạm dụng của Thường Trụ, gạt gẫm bạch y, trái phạm Giới Luật, tạo nhiều tội ác; hạng người như thế phải đọa địa ngục Vô Gián nghìn muôn ức kiếp, không lúc nào mong ra được.

Nếu có chúng sinh trộm cắp tài vật, lúa gạo, đồ ăn thức uống, y phục của cải Thường Trụ, cho đến không cho mà lấy một vật; kẻ đó phải đọa địa ngục Vô Gián nghìn muôn ức kiếp, không lúc nào mong ra được. Ngài Ðịa Tạng lại thưa rằng: “Thánh Mẫu! Nếu có chúng sinh nào phạm những tội như thế, thì phải đọa vào Ngũ Vô Gián địa ngục, cầu tạm ngừng sự đau khổ trong chừng một niệm cũng không thể được”. Ma Da Phu Nhân lại bạch cùng Ðịa Tạng Bồ Tát rằng: “Thế nào gọi là địa ngục Vô Gián?”. Ðịa Tạng Bồ Tát thưa rằng: Thánh Mẫu! Tất cả địa ngục đều trong núi Ðại Thiết Vi. Ðịa ngục lớn có tới mười tám chỗ; thứ kế có năm trăm chỗ, danh hiệu đều có khác nhau; thứ kế nữa lại có đến nghìn trăm, danh hiệu cũng đều khác nhau. Ngục Vô Gián có ngục thành, giáp vòng hơn tám vạn dặm; thành đó thuần là bằng sắt, cao một vạn dặm; lửa cháy trên thành không có chỗ nào hở trống. Trong ngục thành đó, các nhà ngục nối tiếp nhau, danh hiệu đều có sai khác. Chỉ có một ngục tên là Vô Gián. Ngục này chu vi tới một vạn tám nghìn dặm; tường ngục cao một nghìn dặm, toàn bằng sắt và lửa cháy suốt trên suốt dưới. Trên tường ngục có rắn sắt, chó sắt phun lửa đuổi nhau chạy bên này sang bên kia. Trong ngục có giường rộng khắp muôn dặm; một người thọ tội thì tự thấy mình nằm chật cả giường, nghìn muôn người thọ tội thì mỗi người cũng đều tự thấy thân mình đầy chật cả giường. Là do các nghiệp chiêu cảm mà gặt quả báo như thế. Lại nữa, các tội nhân còn phải chịu đủ sự khổ sở; như có cả trăm nghìn Dạ Xoa cùng các ác quỷ, răng nanh như đao kiếm, mắt chói sáng như ánh điện chớp, tay có móng đồng, lôi móc người tội. Lại còn có quỷ Dạ Xoa cầm kích sắt lớn đâm vào thân mình người tội, hoặc đâm trúng miệng mũi, hoặc đâm trúng bụng lưng, rồi hất tung lên trên không, hứng lấy để lại trên giường. Lại còn có chim ưng bằng sắt mổ ăn mắt người tội. Lại có rắn sắt quấn cổ người tội. Tội nhân còn bị đóng đinh vào các khớp xương, và các lóng đốt trong thân, kéo lưỡi cày bừa, lôi móc người tội, rót đổ nước đồng vào miệng, quấn sắt nóng đỏ quanh thân; muôn lần chết đi sống lại. Nghiệp cảm như thế, trải qua ức kiếp không lúc nào mong thoát ra khỏi được. Lúc thế giới này hư hoại, thì sinh nhờ qua địa ngục ở thế giới khác; thế giới khác đó hư hoại, thì lại chuyển sang cõi khác; lúc cõi khác đó hư hoại thì lại lần lượt chuyển đi; sau khi thế giới này thành thì lại trở về. Những sự tội báo trong ngục Vô Gián như thế. Do có năm sự nghiệp cảm, nên được gọi là Vô Gián. Những gì là năm? Một là, ngày đêm thọ tội, cho đến bao kiếp, không lúc nào dứt, nên được gọi là Vô Gián. 

Hai là, chứa một người cũng đầy chật, chứa nhiều người cũng đầy chật, nên được gọi là Vô Gián. 

Ba là, có những khí cụ hành hình người tội như cái chĩa ba, gậy, chim ưng, rắn, chó sói, chó, cối, cưa, đục, giũa, búa rìu, vạc dầu sôi, lưới sắt, dây sắt, lừa sắt, ngựa sắt, da sống niềng đầu, nước sắt nóng rưới thân; khi đói thì nuốt viên sắt, khát uống nước sắt, quanh năm suốt kiếp, đến vô số kiếp, khổ sở triền miên, không hề gián đoạn, nên được gọi là Vô Gián.

Bốn là, bất luận kẻ nam người nữ, dòng tộc mọi rợ, người già trẻ nhỏ, kẻ sang người hèn, hoặc Rồng hoặc Thần, hoặc Trời hoặc Quỷ, hễ gây tội ác thì ắt chiêu cảm lấy nghiệp, tất cả đều chịu như nhau, nên được gọi là Vô Gián.

Năm là, nếu đọa vào địa ngục này, thì từ mới vào cho tới trăm nghìn kiếp nữa, mỗi ngày mỗi đêm muôn lần chết đi muôn lần sống lại, muốn cầu tạm ngừng trong chừng một niệm cũng không thể được, trừ phi nghiệp tội tiêu hết mới được thọ sinh; do cứ liên miên như thế nên được gọi là Vô Gián. Ðịa Tạng Bồ Tát lại thưa với Thánh Mẫu rằng: “Nói sơ lược về địa ngục Vô Gián là thế. Nếu nói rộng ra về tên của những khí cụ hành tội cùng những thống khổ trong địa ngục đó, thì suốt một kiếp cũng không thể nói hết được!”. Ma Da Phu Nhân nghe xong, ưu sầu chắp tay đỉnh lễ lui ra.

 

   

PHẨM THỨ TƯ         

NGHIỆP CẢM CỦA CHÚNG SINH Ở CÕI DIÊM PHÙ

Lúc đó, Ðịa Tạng Bồ Tát bạch Ðức Phật rằng: Bạch Ðức Thế Tôn! Con nhờ nương sức oai thần của Đức Như Lai, nên mới phân thân đến khắp trăm nghìn vạn ức thế giới, để cứu vớt tất cả chúng sinh bị nghiệp báo. Nếu không nhờ sức đại từ của Ðức Như Lai, thì chẳng thể biến hóa được như thế. Con nay lại được Ðức Phật phó chúc: Từ nay đến khi Ngài A Dật Ða thành Phật, phải làm cho chúng sinh trong sáu đường đều được độ thoát. Xin vâng! Bạch Ðức Thế Tôn, xin Ngài chớ nặng lo âu! Bấy giờ Ðức Phật bảo Ðịa Tạng Bồ Tát rằng: “Những chúng sinh còn chưa được giải thoát, tính thức không định, quen làm điều ác thì kết thành nghiệp báo dữ, quen làm điều thiện thì kết thành quả báo lành; làm thiện làm ác đều theo cảnh duyên mà sinh, luân chuyển mãi trong sáu đường, chẳng tạm ngừng ngớt, mê hoặc chướng nạn trải qua kiếp số nhiều như vi trần. Như cá trong lưới bơi theo dòng nước, tạm thoát ra được rồi lại mắc lưới. Vì những chúng sinh đó mà Ta phải lo nghĩ”. Ðời trước Ông đã phát nguyện trải qua nhiều kiếp, lập thệ quảng độ những kẻ có tội, thì Ta còn lo gì nữa! Khi Đức Phật dạy như thế, trong Pháp Hội có vị Đại Bồ Tát hiệu là Ðịnh Tự Tại Vương, bạch Ðức Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Từ nhiều thuở kiếp đến nay, Ðịa Tạng Bồ Tát đã phát thệ nguyện gì mà nay được Thế Tôn ân cần ngợi khen như thế? Cúi mong Ðức Thế Tôn lược nói cho”. Bấy giờ Thế Tôn bảo Ðịnh Tự Tại Vương Bồ Tát rằng: “Lắng nghe! Lắng nghe! Phải khéo suy xét. Ta sẽ vì Ông giải bày rõ ràng”. Vào thuở quá khứ, vô lượng vô số na do tha kiếp, không thể nói hết; lúc đó có Phật hiệu là Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật-Thế Tôn, Ðức Phật này thọ tới sáu vạn kiếp. Khi chưa xuất gia, Ngài là vua một nước nhỏ và kết bạn với vua của một nước lân cận; cùng nhau thực hành Thập Thiện, nhiêu ích chúng sinh. Dân trong nước lân cận đó đa số tạo nhiều việc ác, hai vua bàn tính, rộng lập phương tiện. Một vua phát nguyện: “Tôi nguyện sớm thành Phật Ðạo để độ hết những kẻ ấy, không sót một ai”. Một vua thì nguyện: “Như tôi chẳng trước hóa độ những kẻ tội khổ, làm cho họ được an vui, cho đến đắc quả Bồ Ðề, thì tôi nguyện chưa thành Phật”. Thế Tôn bảo Bồ Tát Ðịnh Tự Tại Vương rằng: “Vị Vua phát nguyện sớm thành Phật đó chính là Ðức Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai; còn Vua phát nguyện vĩnh viễn cứu độ chúng sinh tội khổ, chưa chịu thành Phật, đó chính là Ðịa Tạng Bồ Tát vậy. Lại trong quá khứ, vô lượng vô số kiếp về đời trước, có Phật ra đời hiệu là Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai. Phật đó thọ bốn mươi kiếp. Trong thời Tượng Pháp, có vị La Hán phúc đức cứu độ chúng sinh. Nhân đi tuần tự giáo hóa, vị La Hán gặp một người con gái tên là Quang Mục, thiết bày vật thực cúng dàng. La Hán bèn hỏi: “Ngươi muốn mong cầu điều chi?”. Quang Mục thưa rằng: “Ngày thân mẫu mất, con có làm việc phúc thiện hầu cứu vớt bà; song chưa rõ thân mẫu con thác sinh về đâu!”. La Hán cảm thương, nhập Ðịnh quán sát, thì thấy mẹ của Quang Mục bị đọa vào chốn đường ác, vô cùng khổ sở. Vị La Hán hỏi Mục: “Thân mẫu của ngươi lúc sinh tiền làm những hạnh nghiệp gì, mà nay phải đọa vào trong đường ác, cực khổ như thế?”. Quang Mục thưa rằng: “Tính thân mẫu con chỉ thích ăn cá, ba ba, cùng trứng và con của các loài ấy; hoặc chiên hoặc nấu, tha hồ mà ăn; nếu tính đếm số sinh mạng đó thì đến hơn nghìn muôn. Kính thưa Tôn Giả từ mẫn, nay con phải làm thế nào để giải cứu mẫu thân con?”. La Hán xót thương bèn lập phương tiện khuyên Quang Mục rằng: “Ngươi phải chí thành niệm Ðức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, vẽ đắp hình tượng Đức Phật, thì kẻ còn cùng người mất đều được phúc báo!”. Quang Mục nghe xong, liền xuất tiền của, rồi tô vẽ tượng Phật để thờ cúng, đem lòng cung kính, khóc thương chiêm lễ. Bỗng đến giữa khuya mộng thấy thân Phật, sắc vàng sáng chói, như núi Tu Di, phóng ánh sáng lớn bảo Quang Mục rằng: “Chẳng bao lâu nữa thân mẫu ngươi sẽ sinh vào nhà ngươi, khi biết đói lạnh thì liền biết nói”. Sau đó, người nữ tỳ trong nhà sinh một đứa bé trai, chưa đầy ba ngày liền đã biết nói. Ðứa bé buồn khóc nói than với Quang Mục rằng: “Nghiệp duyên sinh tử, quả báo phải nhận. Tôi là mẹ người, lâu nay ở chốn tối tăm. Từ khi vĩnh biệt, tôi phải đọa vào nơi đại địa ngục. Nhờ phúc lực của người nên mới được thọ sinh làm kẻ hạ tiện, lại thêm thọ mạng ngắn ngủi. Đến mười ba tuổi lại phải đọa vào địa ngục. Người có cách gì khiến tôi được thoát miễn chăng?”. Quang Mục nghe nói, biết là mẹ mình chẳng sai, nghẹn ngào thương khóc mà nói với con kẻ nữ tỳ rằng: “Ðã là mẹ tôi, tất phải biết tội của mình; do làm hạnh nghiệp gì mà phải đọa vào chốn địa ngục như thế?”. Đứa trẻ đáp rằng: “Do hai nghiệp là sát hại và chê bai mắng nhiếc mà phải thọ báo khổ. Nếu không nhờ phúc đức của người cứu nạn cho, thời cứ theo những nghiệp đó thì tôi vẫn chưa giải thoát”. Quang Mục hỏi rằng: “Những tội báo trong địa ngục ra sao?”. Đứa trẻ đáp rằng: “Những việc tội khổ nói ra vô cùng bất nhẫn, dẫu đến trăm nghìn năm cũng khó mà kể cho hết được!”. Quang Mục nghe xong, rơi lệ khóc, bạch cùng giữa hư không rằng: Nguyện cho thân mẫu con được vĩnh viễn thoát chốn địa ngục, và khi mãn mười ba tuổi thì không còn bị trọng tội, cũng chẳng phải trải qua các chốn ác đạo nữa. Cúi xin thập phương Chư Phật từ bi thương xót, lắng nghe con nay vì mẹ mà phát lời thệ nguyện rộng lớn rằng:

Như thân mẫu con, được vĩnh viễn lìa khỏi chốn Tam Ðồ và hàng hạ tiện, cho tới cùng kiếp không phải thọ thân gái nữa, con xin đối trước tượng của Ðức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai mà phát lời nguyện rằng: Kể từ nay cho đến trăm nghìn muôn ức kiếp về sau, hễ nơi thế giới nào còn có các chúng sinh chịu tội khổ nơi địa ngục cùng Ba Ác Ðạo, con nguyện cứu vớt, làm cho tất cả đều xa lìa các nẻo ác Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh... Những kẻ mắc phải tội báo như thế thành Phật cả rồi, thì sau đó con mới thành Chính Giác. Phát thệ nguyện xong, liền nghe rõ tiếng Ðức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai dạy rằng: Này Quang Mục! Ngươi quả có đại từ mẫn, khéo vì mẹ mà phát lời đại nguyện như thế! Ta quán sát thấy mẹ ngươi, vào lúc mãn mười ba tuổi, khi bỏ báo thân này rồi, sẽ được sinh làm người Phạm Chí sống lâu trăm tuổi; sau khi hết báo thân ấy, sẽ được sinh về cõi nước Vô Ưu, thọ mạng lâu dài không thể tính được; và sau rốt sẽ thành tựu Phật Quả, độ cho nhiều hạng Người, Trời, số đông như cát sông Hằng. Thế Tôn bảo Ðịnh Tự Tại Vương Bồ Tát rằng: Vị La Hán có phúc lành độ cho Quang Mục thuở đó, nay chính là Vô Tận Ý Bồ Tát; thân mẫu của Quang Mục là Giải Thoát Bồ Tát; còn Quang Mục là Ðịa Tạng Bồ Tát đây vậy! Trong nhiều số kiếp lâu xa về đời quá khứ, Địa Tạng Bồ Tát có lòng từ mẫn, lập ra Hằng hà sa lời thệ nguyện, rộng độ chúng sinh như thế. Trong đời sau này, có kẻ nam người nữ nào không làm lành mà làm ác, cho đến những kẻ chẳng tin nhân quả, tà dâm, vọng ngữ, hai lưỡi, ác khẩu, hủy báng Ðại Thừa; những chúng sinh có các nghiệp như thế tất phải đọa vào đường ác. Nếu gặp được Thiện Tri Thức khuyên bảo, khiến cho chừng khảy móng tay, quy y Ðịa Tạng Bồ Tát, những chúng sinh đó liền được thoát khỏi báo khổ của Ba Ác Ðạo. Nếu như có thể chí tâm quy kính, chiêm lễ tán thán, dâng cúng hương, hoa, y phục, các thứ trân bảo, hoặc dâng đồ ăn thức uống, thì trăm nghìn muôn ức kiếp về sau, thường được sinh ở cõi Trời, hưởng sự vui thù thắng vi diệu. Lúc hết phúc Trời, sinh xuống nhân gian, thì thường làm bậc Ðế Vương trong trăm nghìn kiếp, lại nhớ rõ được cội nguồn nhân quả đời trước của mình. Này Ðịnh Tự Tại Vương! Ðịa Tạng Bồ Tát oai thần lực lớn không thể nghĩ bàn, lợi ích rộng lớn cho chúng sinh như thế đó. Những bậc Bồ Tát các ông, phải luôn ghi nhớ Kinh này, tuyên dương lưu bố' rộng ra. Ngài Ðịnh Tự Tại Vương bạch Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Xin Thế Tôn chớ lo nghĩ! Nghìn muôn ức Đại Bồ Tát chúng con đều có thể nương oai thần của Phật mà tuyên diễn rộng rãi Kinh này nơi cõi Diêm Phù Ðề để lợi ích cho chúng sinh”. Ðịnh Tự Tại Vương Bồ Tát bạch với Ðức Thế Tôn xong, cung kính chắp tay làm lễ lui ra. Bấy giờ, bốn vị Thiên Vương cai quản bốn phương, cùng từ chỗ ngồi đứng dậy, cung kính chắp tay mà bạch Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Ðịa Tạng Bồ Tát từ kiếp lâu xa đến nay đã phát đại nguyện như thế, vì sao đến nay vẫn độ chưa hết, lại còn phát quảng đại thệ nguyện nữa? Cúi xin Ðức Thế Tôn dạy cho chúng con rõ”.

Ðức Phật bảo bốn vị Thiên Vương rằng: “Lành thay! Lành thay! Ta nay sẽ vì sự lợi ích rộng lớn của các Ông, cùng các chúng Trời, người ở hiện tại và vị lai, mà nói việc Ðịa Tạng Bồ Tát ở Sa Bà Thế Giới, trong đường sinh tử cõi Diêm Phù Ðề, từ mẫn cứu vớt, phương tiện độ thoát tất cả chúng sinh tội khổ”. Bốn vị Thiên Vương bạch rằng: “Vâng! Bạch Thế Tôn, chúng con xin muốn được nghe”. Ðức Phật bảo bốn vị Thiên Vương rằng: Ðịa Tạng Bồ Tát từ bao kiếp lâu xa cho đến nay, độ thoát chúng sinh vẫn chưa mãn nguyện. Bồ Tát từ bi thương xót chúng sinh tội khổ ở trong đời này, lại quán thấy vô lượng kiếp về sau, nghiệp nhân cứ gây tạo mãi chẳng dứt; vì lẽ đó nên lại phát trọng nguyện. Địa Tạng Bồ Tát ở trong cõi Diêm Phù Đề, Sa Bà Thế Giới, sử dụng trăm nghìn vạn ức phương tiện giáo hóa chúng sinh. Này bốn Thiên Vương! Ðịa Tạng Bồ Tát nếu như gặp kẻ sát sinh, thì dạy rõ quả báo vì nghiệp báo đời trước mà phải chết yểu. 

Gặp kẻ trộm cắp, thì chỉ dạy rõ quả báo bần cùng khổ sở.

Gặp kẻ tà dâm, thì chỉ dạy rõ quả báo làm chim se sẻ, bồ câu, uyên ương.

Gặp kẻ nói lời thô ác, thì chỉ dạy rõ quả báo thân quyến chẳng hòa hợp.

Nếu gặp kẻ hay hủy báng, thì chỉ dạy rõ quả báo không lưỡi, miệng lở.

Gặp kẻ nóng giận, thì chỉ dạy rõ quả báo thân hình xấu xí, tàn tật.

Gặp kẻ bỏn xẻn, thì chỉ dạy rõ quả báo sở cầu không được toại nguyện.

Gặp kẻ ăn uống vô độ, thì chỉ dạy rõ quả báo đói, khát, cổ họng đau đớn.

Gặp kẻ săn bắn buông lung, thì chỉ dạy rõ quả báo kinh hãi, điên cuồng, mất mạng.

Nếu gặp kẻ ngỗ nghịch với cha mẹ, thì chỉ dạy rõ quả báo trời đất đánh chết.

Nếu gặp kẻ đốt núi rừng cây cối, thì chỉ dạy rõ quả báo cuồng mê đến chết.

Nếu gặp kẻ làm cha, mẹ, dượng hay dì ghẻ mà lại độc ác, thì chỉ dạy rõ quả báo sinh trở lại hiện đời bị roi vọt.

Gặp kẻ đặt lưới, giăng bẫy để bắt sinh vật non yếu, thì chỉ dạy rõ quả báo cốt nhục chia lìa.

Gặp kẻ hủy báng Tam Bảo, thì chỉ dạy rõ quả báo đui, điếc, câm, ngọng.

Gặp kẻ khinh chê giáo Pháp, thì chỉ dạy rõ quả báo ở mãi trong chốn ác đạo.

Nếu gặp kẻ phá hoại của Thường Trụ, thì chỉ dạy rõ quả báo ức kiếp luân hồi địa ngục.

Gặp kẻ ô nhục phạm hạnh, vu báng Tăng Già, thì chỉ dạy rõ quả báo ở mãi trong loài súc sinh.

Gặp kẻ làm bỏng, đốt, chém, chặt, hoặc đả thương sinh vật, thì chỉ dạy rõ quả báo luân hồi đền trả lẫn nhau.

Gặp kẻ phá giới phạm trai, thì chỉ dạy rõ quả báo làm thân cầm thú đói khát.

Gặp kẻ phá hủy phi lý vật dụng của cải, thì chỉ dạy rõ quả báo mọi tiêu dùng đều thiếu hụt.

Gặp kẻ kiêu mạn cống cao, thì chỉ dạy rõ quả báo phải làm nô dịch hèn hạ.

Gặp kẻ nói hai lưỡi gây xích mích, thì chỉ dạy rõ quả báo không lưỡi, hoặc bị trăm lưỡi.

Gặp kẻ tà kiến, thì chỉ dạy rõ quả báo thọ sinh vào chỗ hẻo lánh.

Kết quả trăm nghìn muôn sự báo ứng bởi tập khí xấu ác từ thân khẩu ý nghiệp của chúng sinh trong cõi Diêm Phù Ðề như thế, nay chỉ sơ lược đó thôi. Nghiệp cảm của chúng sinh trong chốn Diêm Phù Ðề sai biệt như thế, nên Ðịa Tạng Bồ Tát phải dùng trăm nghìn phương tiện để giáo hóa. Các chúng sinh ấy, trước tiên phải thọ lãnh các quả báo như thế, sau đó lại phải đọa vào địa ngục, trải qua nhiều kiếp không có kỳ hạn thoát ra. Vì thế cho nên, các Ông phải hộ trì người, hộ trì Quốc gia, chớ để những nghiệp chướng đó mê hoặc chúng sinh. Bốn vị Thiên Vương nghe xong, rơi lệ than thở, chắp tay lễ Phật lui ra.

 

KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BẢN NGUYỆN

Hết Quyển Thượng

 

KỆ TÁN

Trên cung trời Đao Lợi

Địa Tạng Bản Nguyện Kinh

Thần Thông Phật hiển hóa

Độ mê khắp quần sinh

Đời ngũ trược khó tỉnh

Ương ngạnh chúng hữu tình

Ham vui nên chịu khổ

Họa phúc đều do mình

Nam mô Thường Trụ Thập Phương Phật (3 lần) o

Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Bồ Tát. (3 lần) o

 

QUYỂN TRUNG PHẨM THỨ NĂM

DANH HIỆU CỦA ĐỊA NGỤC

Lúc đó, Phổ Hiền Đại Bồ Tát thưa cùng Ðịa Tạng Bồ Tát rằng: “Thưa Nhân Giả! Xin Ngài hãy vì Trời, Rồng, tứ chúng, và tất cả chúng sinh hiện tại cùng vị lai, mà nói rõ danh hiệu các địa ngục, là nơi thọ báo của các chúng sinh tội khổ ở trong thế giới Sa Bà và cõi Diêm Phù Ðề này, cùng những ác báo, để cho chúng sinh trong thời Mạt Pháp đời sau biết rõ những quả báo đó”. Ðịa Tạng Bồ Tát đáp rằng: Thưa Nhân Giả! Nay tôi nương oai thần của Ðức Phật cùng oai lực của Ngài, mà lược nói danh hiệu các địa ngục, cùng những sự về tội báo, ác báo. Thưa Nhân Giả! Phương Ðông của cõi Diêm Phù có dãy núi là Thiết Vi. Núi đó tối thẫm, không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng; trong đó có địa ngục lớn tên gọi là Cực Vô Gián, lại có địa ngục tên là ngục Ðại A Tỳ, lại có địa ngục tên là Bốn Sừng, lại có địa ngục tên là Dao Bay. Lại có địa ngục tên là Tên Lửa, lại có địa ngục tên là Núi Ép, lại có địa ngục tên là Giáo Đâm, lại có địa ngục tên là Xe Sắt, lại có địa ngục tên là Giường Sắt, lại có địa ngục tên là Trâu Sắt, lại có địa ngục tên là Áo Sắt... Lại có địa ngục tên là Nghìn Mũi Nhọn, lại có địa ngục tên là Lừa Sắt, lại có địa ngục tên là Nước Đồng Sôi, lại có địa ngục tên là Ôm Trụ Đồng, lại có địa ngục tên là Lửa Chảy, lại có địa ngục tên là Cày Lưỡi, lại có địa ngục tên là Chém Đầu, lại có địa ngục tên là Đốt Chân, lại có địa ngục tên là Móc Mắt, lại có địa ngục tên là Viên Sắt... Lại có địa ngục tên là Cãi Cọ, lại có địa ngục tên là Rìu Sắt, lại có địa ngục tên là Nhiều Nóng Giận. Ðịa Tạng Bồ Tát nói rằng: Thưa Nhân Giả! Trong núi Thiết Vi có những địa ngục như thế, số nhiều vô hạn. Lại có địa ngục Kêu Gào, địa ngục Rút Lưỡi, địa ngục Phân và Nước Tiểu, địa ngục Khóa Đồng, địa ngục Voi Lửa, địa ngục Chó Lửa, địa ngục Ngựa Lửa, địa ngục Trâu Bò Lửa, địa ngục Núi Lửa, địa ngục Đá Lửa, địa ngục Giường Lửa, địa ngục Xà Nhà Lửa, địa ngục Chim Ưng Lửa, địa ngục Cưa Răng, địa ngục Lột Da, địa ngục Uống Máu, địa ngục Đốt Tay, địa ngục Đốt Chân, địa ngục Đâm Ngược, địa ngục Nhà Lửa, địa ngục Nhà Sắt, địa ngục Chó Sói Lửa. Các thứ địa ngục như thế, trong mỗi ngục lớn có những ngục nhỏ, hoặc một, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, cho đến trăm, nghìn; trong số ngục đó danh hiệu đều chẳng đồng nhau. Ðịa Tạng Bồ Tát lại nói với Phổ Hiền Bồ Tát rằng: Thưa Nhân Giả! Ðây đều bởi do chúng sinh trong cõi Nam Diêm Phù Ðề làm điều ác mà tùy nghiệp chiêu cảm ra những địa ngục như thế. Nghiệp lực rất lớn, có thể sánh núi Tu Di, có thể sâu dường biển cả, có thể chướng ngăn Thánh Ðạo. Vì thế, chúng sinh chớ khinh thường điều ác nhỏ mà cho là không mắc tội, sau khi chết đi đều có quả báo, dầu chỉ mảy may đều phải chịu lấy. Chí thân như cha với con, mỗi người cũng đi theo nghiệp của mình, đi mỗi ngả đường khác nhau, dầu có gặp gỡ cũng chẳng bằng lòng gánh chịu khổ thay cho nhau. Nay tôi nương oai lực của Ðức Phật mà lược nói những sự tội báo nơi địa ngục; xin mong Nhân Giả tạm nghe lời đó. Ngài Phổ Hiền đáp: Tôi từ lâu nay đã rõ tội báo nơi Ba Ác Ðạo. Tôi mong Nhân Giả nói ra, khiến cho tất cả chúng sinh ác hạnh trong đời Mạt Pháp sau này, nghe được lời chỉ dạy của Nhân Giả mà quay về với Phật Đạo. Ðịa Tạng Bồ Tát nói rằng: Thưa Nhân Giả! Những tội báo chốn địa ngục, như vầy: Hoặc có địa ngục kéo lưỡi người tội ra cho trâu cày lên đó; hoặc có địa ngục moi tim người tội cho Dạ Xoa ăn; hoặc có địa ngục vạc dầu sôi sục nấu thân người tội; hoặc có địa ngục đốt trụ đồng nóng đỏ rực rồi bắt người tội ôm lấy; hoặc có địa ngục các bựng lửa lớn đuổi theo tấp vào người tội; hoặc có địa ngục toàn là băng giá; hoặc có địa ngục đầy vô hạn đồ phẩn tiểu; hoặc có địa ngục toàn là chùy gai chông sắt lao bay; hoặc có địa ngục nhiều giáo lửa đâm; hoặc có địa ngục chỉ đập ngực lưng; hoặc có địa ngục chỉ đốt tay chân; hoặc có địa ngục rắn sắt quấn cắn; hoặc có địa ngục chó sắt xua đuổi; hoặc có địa ngục lừa sắt... Nhân Giả! Những quả báo đó, trong mỗi ngục có trăm nghìn khí cụ hành hình đều bằng đồng, sắt, bằng đá, bằng lửa; bốn loại khí cụ này là do các hành nghiệp ác của chúng sinh mà cảm vời ra. Nếu nói rộng về những sự tội báo ở nơi địa ngục, thì trong mỗi ngục còn có cả trăm nghìn thứ khổ sở, huống chi trong nhiều ngục! Nay tôi nương nhờ sức oai thần của Ðức Phật và vì Nhân Giả hỏi đến mà nói sơ lược như thế; nếu nói rộng ra thì muôn kiếp nói cũng không hết được!

 

 PHẨM THỨ SÁU   

NHƯ LAI TÁN THÁN

Lúc đó, toàn thân của Ðức Thế Tôn phóng ra ánh sáng lớn soi khắp trăm nghìn muôn ức Hằng hà sa cõi nước của các Chư Phật, lại phát ra âm thanh lớn bảo khắp thế giới của Chư Phật rằng: Tất cả các hàng Bồ Tát cùng Trời, Rồng, Quỷ, Thần, nhân, phi nhân..., hãy lắng nghe hôm nay Ta xưng dương tán thán Ngài Ðịa Tạng Đại Bồ Tát ở trong mười phương thế giới, hiện sức từ bi oai thần to lớn không thể nghĩ bàn, để cứu giúp cho tất cả những kẻ tội khổ. Sau này khi Ta diệt độ, thì hàng Bồ Tát Ðại Sĩ các Ông, cùng với Trời, Rồng, Quỷ, Thần... nên dùng nhiều phương tiện để gìn giữ Kinh này, khiến cho tất cả chúng sinh đều thoát khỏi mọi sự khổ, mà chứng được cảnh an vui Niết Bàn. Thế Tôn nói lời ấy xong, trong Pháp Hội có một vị Bồ Tát tên là Phổ Quảng cung kính chắp tay bạch Ðức Phật rằng: “Nay con nghe Ðức Thế Tôn tán thán Ðịa Tạng Bồ Tát có đức oai thần rộng lớn bất khả tư nghì như thế, con trông mong Ðức Thế Tôn vì những chúng sinh trong thời Mạt Pháp đời sau, mà tuyên nói các sự nhân quả của Ðịa Tạng Bồ Tát làm lợi ích cho Trời, Người; hầu cho hàng Trời, Rồng, Bát Bộ và chúng sinh trong đời sau này thảy đều kính vâng lời của Ðức Phật”. Đức Thế Tôn bảo Bồ Tát Phổ Quảng cùng Tứ chúng rằng: “Lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì các Ông mà lược nói về những phúc đức của Ðịa Tạng Đại Bồ Tát lợi ích cho hàng Trời, Người”. Phổ Quảng Bồ Tát bạch rằng: “Vâng! Bạch Ðức Thế Tôn! Chúng con vui mừng muốn xin được nghe”. Ðức Phật bảo Bồ Tát Phổ Quảng rằng: Trong đời sau này, như có thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào nghe được danh hiệu của Ðịa Tạng Đại Bồ Tát, hoặc là chắp tay, hoặc là tán thán, hoặc là đỉnh lễ, hoặc là luyến mộ, người đó sẽ qua khỏi được tội khổ trong ba mươi kiếp. Này Phổ Quảng! Như có thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào, hoặc tô vẽ hình tượng Ngài Địa Tạng Bồ Tát, hoặc dùng đất, đá, keo, sơn, vàng, bạc, đồng, sắt, tạc tượng Địa Tạng Bồ Tát, rồi cứ một lần chiêm ngưỡng một lần đỉnh lễ, thì người đó sẽ được sinh lên cõi trời Đao Lợi một trăm lần, vĩnh viễn không phải đọa vào ác đạo. Giả sử phúc Trời đã hết, phải sinh xuống cõi nhân gian, cũng vẫn làm vị Quốc Vương, không hề mất sự lợi lớn. Giả sử có người nữ nào nhàm chán thân nữ, hết lòng cúng dàng tượng vẽ của Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát, cùng những tượng bằng đất, đá, keo, sơn, đồng, sắt..., ngày ngày như thế, không hề thoái chuyển; lại thường đem hoa, đem hương, đồ ăn, thức uống, y phục, gấm lụa, tràng phan, tiền bạc, vật báu... cúng dàng; thì người thiện nữ đó sau khi mãn một báo thân nữ hiện tại, thời đến trăm nghìn muôn kiếp còn không sinh vào thế giới có người nữ nữa, huống hồ là thọ sinh lại nữ thân! Trừ phi vì có nguyện lực từ bi, muốn thọ thân nữ để độ thoát cho chúng sinh; còn thì nương nơi sức cúng dàng Ngài Ðịa Tạng cùng với sức công đức đó, trong trăm nghìn muôn kiếp chẳng còn phải thọ nữ thân nữa. Lại nữa, Phổ Quảng Bồ Tát! Nếu người nữ nào chán thân xấu xí và nhiều bệnh tật, đến trước tượng Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát, chí tâm chiêm ngưỡng đỉnh lễ trong chừng bữa ăn, người nữ đó trong nghìn muôn kiếp sẽ thọ sinh thân hình tướng mạo viên mãn. Người xấu xí đó, nếu không nhàm chán thân nữ, thì trong trăm nghìn muôn ức kiếp đời, thường làm con gái nhà Vua, cho đến Vương Phi, hoặc con gái dòng Tể Phụ, Ðại Quan, dòng Ðại Trưởng Giả, tướng mạo đoan chính viên mãn. Do lòng chí thành chiêm lễ hình tượng của Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát mà được phúc báo như thế. Lại nữa, Phổ Quảng! Như có thiện nam, thiện nữ nhân nào, có thể đối trước tượng Ngài Địa Tạng Bồ Tát mà trỗi các thứ kỹ nhạc, ca vịnh, tán thán, cúng dàng hương hoa, cho đến khuyến hóa được một người hay nhiều người; những hạng người đó ở đời hiện tại cùng đời sau này, thường được trăm nghìn Quỷ Thần ngày đêm hộ vệ, không để những việc hung dữ đến tai, huống là để cho chịu các tai vạ bất ngờ! Lại nữa, Phổ Quảng! Trong đời sau này, như có người ác, cùng với ác thần, ác quỷ nào mà thấy kẻ thiện nam, thiện nữ quy kính cúng dàng, tán thán, chiêm lễ hình tượng Ðịa Tạng Bồ Tát, mà vọng sinh khinh chê là không có công đức cùng sự lợi ích, hoặc nhăn răng cười, hoặc chê sau lưng, hoặc bảo người khác cùng chê, hoặc một người chê, hoặc nhiều người chê, cho đến sinh lòng chê bai trong chừng một niệm; thì những kẻ đó, sau khi một nghìn Đức Phật trong Hiền Kiếp diệt độ cả, vì tội báo khinh chê nên vẫn còn ở trong địa ngục A Tỳ chịu tội cực nặng. Qua khỏi kiếp này mới được thọ thân ngạ quỷ, rồi mãi một nghìn kiếp sau mới được thọ thân súc sinh; lại phải trải qua một nghìn kiếp nữa mới được thân người. Dầu thọ thân người, nhưng là những hạng bần cùng hèn hạ, các căn không được đầy đủ, thường hay bị những nghiệp ác kết buộc vào thân, chẳng bao lâu lại phải đọa vào chốn ác đạo. Cho nên, Phổ Quảng! Khinh chê người khác cúng dàng, mà còn mắc phải tội báo như thế, huống là tự sinh ác kiến khinh chê, hủy diệt! Lại nữa, Phổ Quảng! Nếu trong đời sau có người nam hay người nữ nào nằm liệt mãi trên giường, cầu sống cầu chết cũng đều không được; hoặc đêm mộng thấy ác quỷ cho đến thân thích trong nhà, hoặc thấy đi trên đường hiểm, hoặc nhiều lần bị bóng đè, hoặc cùng quỷ Thần dạo chơi... Trải qua nhiều ngày, nhiều tháng nhiều năm, trở nên gầy mòn, trong giấc mộng mị kêu gào khổ sở, thảm thiết không vui. Ðây đều là do nghiệp đạo còn đang luận đối, chưa quyết định nhẹ hay nặng, nên hoặc khó chết, hoặc là khó lành.

Mắt phàm tục của kẻ nam, người nữ không thể biện rõ việc đó, chỉ nên đối trước tượng của Chư Phật, Bồ Tát, lớn tiếng đọc tụng Kinh này một biến; hoặc lấy những vật dụng của người bệnh vẫn thường ưa thích, như y phục, đồ quý báu, nhà cửa, ruộng vườn..., đối trước người bệnh mà lớn tiếng xướng lên rằng: Chúng con, tên đó họ đó, xin vì người bệnh này mà đối trước Kinh, tượng, thí xả những vật này để cúng dàng Kinh tượng, hoặc tạo hình tượng của Phật, Bồ Tát, hoặc xây chùa tháp, hoặc sắm đèn dầu thắp cúng, hoặc cúng vào của Thường Trụ. Xướng lên như vậy ba lần để cho người bệnh nghe biết. Giả như thần thức của người bệnh đã phân tán, hơi thở đã dứt, thì hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, cho đến bảy ngày, cứ lớn tiếng xướng bạch như ở trên, và lớn tiếng tụng Kinh này. Sau khi người bệnh mạng chung, thời dẫu cho từ trước có tội nặng, thậm chí năm tội Vô Gián, cũng được thoát khỏi ác đạo, thọ sinh nơi nào cũng nhớ biết việc đời trước. Huống nữa là người thiện nam, người thiện nữ nào, tự mình biên chép Kinh này, hoặc bảo người chép, hoặc tự mình đắp vẽ hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát, cho đến bảo người đắp vẽ, thì quả báo mà người đó thọ nhận tất có được lợi ích lớn. Vì thế, Phổ Quảng! Nếu thấy có người đọc tụng Kinh này, cho đến chỉ trong một niệm tán thán Kinh này, hoặc bày tỏ lòng cung kính, thì ông phải dùng trăm nghìn phương tiện khuyến hóa người đó phát lòng siêng năng, chớ đừng thoái thất, thì sẽ được trăm nghìn vạn ức công đức không thể nghĩ bàn ở hiện tại và đời sau này. Lại nữa, Phổ Quảng! Như những chúng sinh ở đời sau này, hoặc trong mộng trong mị, thấy các Quỷ, Thần, các hình bóng khác, hoặc lòng buồn bã, hoặc khóc lóc, hoặc rầu rĩ, hoặc than thở, hoặc hãi hùng, sợ sệt…; đây đều là cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, quyến thuộc, một đời, mười đời, trăm đời, hay nghìn đời trong quá khứ, còn đang bị đọa lạc trong ác đạo, chưa được ra khỏi, lại không biết trông mong vào phúc lực nơi nào cứu vớt, nên mới mách bảo với kẻ có tình cốt nhục đời trước, khiến làm phương tiện hầu mong thoát khỏi ác đạo. Này Phổ Quảng! Ông nên dùng thần lực khiến hàng quyến thuộc đó đối trước tượng của Chư Phật, Bồ Tát, chí tâm tự đọc Kinh này, hoặc thỉnh người đọc, đủ ba biến hoặc bảy biến. Như vậy, kẻ quyến thuộc đang trong ác đạo kia, khi tiếng tụng kinh đủ số đó xong, sẽ được giải thoát, cho đến trong mộng trong mị không thấy còn hiện về nữa. Lại nữa, Phổ Quảng! Như đời sau này có những hạng người hạ tiện, hoặc tớ trai, hoặc tớ gái, cho đến kẻ không được quyền tự do, rõ biết là do tội nghiệp đời trước gây ra, cần phải sám hối, chí tâm chiêm lễ hình tượng Ðịa Tạng Bồ Tát, rồi trong một ngày cho tới bảy ngày niệm danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát đủ một vạn biến; những người như thế sau khi mãn báo thân này, trong nghìn vạn đời sau này thường sinh vào nhà tôn quý, không phải trải qua nỗi khổ ba đường ác nữa. Lại nữa, Phổ Quảng! Như trong đời sau, nơi cõi Diêm Phù, trong hàng Sát Đế Lợi, Bà La Môn, trưởng giả, cư sĩ, tất cả các hạng người và những chủng tộc dòng họ khác, có người nào mới sinh được con trai hoặc sinh con gái, nội trong bảy ngày, sớm vì đứa trẻ đó mà tụng Kinh điển không thể nghĩ bàn này, lại vì đứa trẻ mà niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát đủ một vạn biến; thì đứa trẻ trai hoặc gái mới sinh ra đó, nếu đời trước có ương báo thì đều sẽ được giải trừ, lại thêm an ổn, vui vẻ, dễ nuôi, thọ mạng tăng trưởng; còn nếu là đứa nương nơi phúc lực thọ sinh, thì đời nó càng được an vui hơn, cùng sống lâu hơn. Lại nữa, Phổ Quảng! Trong mỗi tháng, những ngày mùng Một, mùng Tám, Mười Bốn, Mười Lăm, Mười Tám, Hai Ba, Hai Bốn, Hai Tám, Hai Chín, Ba Mươi, là những ngày mà nghiệp tội kết tập, để định nặng nhẹ. Tất cả mọi cử chỉ, động niệm của chúng sinh trong cõi Diêm Phù Ðề không có chi là không nghiệp, không có chi là không tội, huống hồ buông lung giết hại, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, trăm điều tội lỗi. Nếu trong đời sau, chúng sinh nào trong mười ngày trai này, có thể đối trước hình tượng Chư Phật, Bồ Tát, Hiền Thánh, đọc tụng Kinh này một biến, thì quanh chỗ người đó ở, bốn hướng Ðông, Tây, Nam, Bắc, trong khoảng một trăm do tuần, sẽ không có các tai nạn. Còn chính nhà của người đó, tất cả mọi người hoặc già hoặc trẻ, về hiện tại và vị lai, đến trăm nghìn năm, vĩnh viễn xa lìa ác đạo. Nếu trong mười ngày trai, có thể mỗi ngày đều tụng một biến Kinh này, thì đời hiện tại, những người trong nhà không bị tai ương bệnh tật, đồ ăn đồ mặc lại được dư dật. Vì thế Phổ Quảng, nên biết rằng Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát có trăm nghìn vạn ức, không thể nói hết, đại oai thần lực lợi ích chúng sinh như thế. Chúng sinh trong cõi Diêm Phù có đại nhân duyên với Ngài Địa Ðại Sĩ. Nếu chúng sinh đó được nghe danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, thấy hình tượng của Bồ Tát, cho đến được nghe chừng ba chữ hoặc năm chữ ở trong Kinh này, hoặc một bài kệ, một câu, thì được an vui thù thắng vi diệu trong đời hiện tại, và trăm nghìn vạn đời sau, thường được đoan chính, được sinh vào nhà tôn quý. Lúc đó, Bồ Tát Phổ Quảng nghe Ðức Thế Tôn xưng dương tán thán Ðịa Tạng Đại Bồ Tát xong, liền quỳ chắp tay mà bạch cùng Ðức Phật rằng: Bạch Ðức Thế Tôn! Từ lâu con đã biết Ðại Sĩ này có đại thần lực, cùng thệ nguyện lực không thể nghĩ bàn như thế, song vì muốn cho chúng sinh đời sau, rõ biết sự lợi ích đó, nên con mới thỉnh vấn Ðức Như Lai. Con xin cung kính lãnh thọ lời Phật dạy. Bạch Ðức Thế Tôn! Kinh này đặt tên là gì và định cho con lưu truyền thế nào? Ðức Phật bảo Ngài Phổ Quảng: Kinh này có ba danh hiệu: Một là Địa Tạng Bản Nguyện, cũng được gọi là Địa Tạng Bản Hạnh, cũng được gọi là Địa Tạng Bản Thệ Lực Kinh. Do vì Ngài Địa Tạng Đại Bồ Tát từ nhiều kiếp lâu xa đến nay từng phát đại trọng nguyện làm lợi ích chúng sinh, cho nên các Ông phải y theo tâm nguyện mà lưu hành rộng ra. Ngài Phổ Quảng nghe xong liền cung kính chắp tay làm lễ mà lui. 

 

 PHẨM THỨ BẢY 

LỢI ÍCH CHO CẢ KẺ CÒN NGƯỜI MẤT

Lúc đó, Ngài Ðịa Tạng Đại Bồ Tát bạch Ðức Phật rằng: Bạch Ðức Thế Tôn! Con xem xét chúng sinh trong cõi Diêm Phù Đề, sinh tâm động niệm không chi là chẳng phải tội. Họ từ bỏ những thiện lợi có được, phần nhiều thoái thất tâm tốt ban đầu. Còn nếu khi gặp duyên sự bạo ác chẳng lành, thì lại niệm thêm lớn. Những hạng người này, như kẻ đeo mang đá nặng đi trong bùn lầy, nên càng khốn đốn, càng nặng thêm dần, chân càng lún sâu. Nếu những người đó, gặp được hàng Thiện Tri Thức, sẽ được gánh vác giùm bớt, hoặc gánh hết cho. Vì hàng Thiện Tri Thức đó, có sức rất mạnh, lại dắt dìu đỡ, khuyến khích làm cho người ấy mạnh lên. Nếu khi ra khỏi bùn lầy, đến chỗ đất bằng phẳng rồi, thì phải xét nghĩ đến con đường hiểm xấu ấy, đừng có đi vào đó nữa. Bạch Ðức Thế Tôn! Những chúng sinh quen theo thói xấu ác, bắt đầu từ chút mảy may rồi lần đến nhiều vô lượng. Đến khi họ sắp mạng chung, thì cha mẹ cùng quyến thuộc, nên vì họ mà tạo nhiều phúc đức, giúp cho lộ trình phía trước của họ. Hoặc treo phan lọng và thắp đèn dầu, hoặc đọc Tôn Kinh, cúng dàng tượng Phật cùng hình tượng các chư Thánh, cho đến niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát Bích Chi Phật, làm cho mỗi danh mỗi hiệu thấu vào nhĩ căn của người sắp sửa mạng chung, hoặc nơi bản thức nghe biết. Cứ theo nghiệp ác của các người đó đã gây tạo mà suy lường quả báo chiêu cảm, tất phải đọa vào ác đạo; song nhờ thân quyến vì kẻ lâm chung tu nhân duyên Thánh đạo, nên các tội đó thảy đều tiêu sạch. Sau khi người ấy đã chết, nếu lại có thể trong bốn chín ngày, vì người ấy mà tu tạo thêm nhiều phúc lành, thời có thể làm cho người chết đó vĩnh viễn xa lìa đường ác, được sinh cõi Trời hoặc vào cõi người, hưởng sự an vui thù thắng vi diệu; mà kẻ thân quyến hiện tại cũng được vô lượng lợi ích. Vì lẽ đó nên nay con đối trước Ðức Phật-Thế Tôn, cùng hàng Trời, Rồng, Tám Bộ chúng, người, phi nhân mà khuyên bảo các chúng sinh trong cõi Diêm Phù: Vào ngày lâm chung, kẻ thân thuộc phải cẩn thận, chớ có giết hại và chớ gây tạo ác duyên, cũng đừng tế lễ Quỷ, Thần, cầu xin ma quái. Tại vì sao thế? Vì việc sát hại cho đến tế lễ đó không có mảy may năng lực lợi ích cho người mất, mà chỉ kết thêm tội duyên, làm cho càng nặng thêm thôi. Giả sử người chết, trong đời trước hoặc hiện tại, đã chứng được phần Thánh Quả, sẽ được sinh vào cõi Trời, cõi người; nhưng vì vào lúc lâm chung bị hàng quyến thuộc gây tạo nghiệp nhân không lành, làm cho người chết mắc lấy ương lụy, đối biện, chậm sinh vào chốn tốt lành. Huống chi là người sắp chết, lúc sống chưa từng có chút thiện căn, phải y theo bản nghiệp mà tự đọa ác đạo! Hàng thân quyến nỡ nào lại làm tăng thêm nghiệp tội của người ấy? Ví như có người từ xứ xa đến, tuyệt lương thực đã ba ngày, lại mang vác theo đồ vật nặng hơn trăm cân, bỗng gặp kẻ lân cận gửi ít món đồ nữa, vì thế mà càng khốn đốn, nặng nề hơn lên. Bạch Ðức Thế Tôn! Con xem xét chúng sinh cõi Diêm Phù, ở trong giáo Pháp của Phật, nếu có thể làm được việc phúc lành chừng bằng một sợi lông, bằng một giọt nước, hạt cát, mảy bụi, thì tất cả đều tự mình được sự lợi ích. Ngài Địa Tạng nói lời như thế xong, trong Pháp Hội có một vị Trưởng Giả tên là Ðại Biện. Ông Trưởng Giả này, từ lâu đã chứng Vô Sinh, hiện thân Trưởng Giả để hóa độ cho mười phương, chắp tay cung kính hỏi Ðịa Tạng Bồ Tát rằng: Thưa Ðại Sĩ! Trong cõi Nam Diêm Phù Ðề có chúng sinh nào sau khi mạng chung, mà hàng quyến thuộc kẻ lớn người nhỏ, đều vì người chết đó mà tu công đức, cho đến thiết trai, cúng dàng, tạo những phúc lành, thì người chết đó có được lợi ích lớn và được giải thoát chăng?

Ðịa Tạng Bồ Tát đáp rằng: “Này ông Trưởng Giả! Nay tôi vì tất cả chúng sinh trong hiện tại cùng đời sau này, nương oai lực của Ðức Phật mà lược nói về việc đó”. Này ông Trưởng Giả! Những chúng sinh ở hiện tại hay đời sau này, lúc sắp mạng chung nghe được danh hiệu một Đức Phật, danh hiệu một vị Bồ Tát, danh hiệu một Bích Chi Phật, thì bất luận là có tội hay không có tội, thảy đều được giải thoát cả. Như có người nam hoặc người nữ nào, lúc sống đã không tu tạo phúc lành, mà lại tạo nhiều nghiệp tội, sau khi mạng chung lại được thân quyến, vì người chết mà tu tạo phúc lợi lớn nhỏ, làm tất cả việc Thánh đạo, thì trong bảy phần công đức, người chết nhờ được một phần, còn sáu phần thuộc về người sống hiện lo tu tạo đó. Vì thế cho nên, các thiện nam hay thiện nữ ở đời hiện tại và đời sau này, nghe lời tôi vừa nói đó, nên cố gắng tự tu hành, thì sẽ được hưởng trọn phần công đức.

Ðại quỷ Vô Thường không hẹn mà đến, thần hồn vơ vẩn mịt mờ, chưa rõ là tội hay phúc, trong bốn chín ngày như ngây như điếc, hoặc ở tại các ty sở để biện luận về nghiệp quả, sau khi thẩm định đã xong thì cứ y theo nghiệp mà thọ sinh. Trong lúc chưa biết ra sao, đã phải nghìn muôn sầu khổ, huống là phải bị đọa vào các chốn ác đạo! Người chết đó khi chưa được thọ sinh, trong bốn mươi chín ngày, luôn luôn trông ngóng cốt nhục thân quyến tu tạo phúc lành để cứu vớt cho.  Quá ngày ấy rồi thì cứ theo nghiệp thọ lấy quả báo. Nếu như người chết là kẻ có tội, thì phải trải qua trong trăm nghìn năm, không có ngày được giải thoát. Nếu là kẻ phạm năm tội Vô Gián thì đọa vào đại địa ngục, chịu mãi những sự đau khổ nghìn muôn kiếp. Lại nữa, này ông Trưởng Giả! Sau khi những chúng sinh gây nghiệp tội như thế mạng chung, hàng cốt nhục thân quyến mà vì họ làm chay, cúng dàng trợ giúp nghiệp đạo; thì ngay trong lúc thức ăn đang làm chưa xong, chớ đem nước gạo, lá rau, đổ vung vãi ra nơi đất; cho đến các thứ đồ ăn chưa dâng cúng Phật và chư Tăng thì chẳng được ăn trước. Nếu ăn trái phép, và không tinh sạch kỹ lưỡng, thì người chết đó trọn không được mảy phúc lực nào cả. Nếu như có thể kỹ lưỡng giữ gìn tinh sạch, đem dâng cúng Phật cùng Tăng, thì trong bảy phần công đức, người chết hưởng được một phần. Này ông Trưởng Giả! Vì thế nên những chúng sinh trong cõi Diêm Phù, sau khi cha mẹ hay thân quyến chết, nếu như thiết trai cúng dàng, chí tâm cầu khẩn, thì mỗi mỗi người như thế, kẻ còn lẫn người đã mất đều lợi ích cả. Địa Tạng Bồ Tát nói lời này xong, tại trời Ðao Lợi có nghìn muôn ức na do tha Quỷ, Thần của cõi Diêm Phù Ðề đều phát tâm Bồ Ðề vô lượng. Trưởng Giả Ðại Biện làm lễ rồi lui.  

 

 PHẨM THỨ TÁM   

CÁC VUA DIÊM LA VÀ QUYẾN THUỘC KHEN NGỢI

Lúc đó, trong núi Thiết Vi có nhiều vô lượng Quỷ Vương cùng Vua Diêm La đồng lên cung trời Ðao Lợi, đến chỗ Ðức Phật. Ðó là:

Quỷ Vương Ác Ðộc

Quỷ Vương Ða Ác

Quỷ Vương Ðại Tránh

Quỷ Vương Bạch Hổ

Quỷ Vương Huyết Hổ

Quỷ Vương Xích Hổ

Quỷ Vương Tán Ương

Quỷ Vương Phi Thân

Quỷ Vương Ðiện Quang

Quỷ Vương Lang Nha

Quỷ Vương Thiên Nhãn

Quỷ Vương Ðạm Thú

Quỷ Vương Phụ Thạch

Quỷ Vương Chủ Hao

Quỷ Vương Chủ Họa

Quỷ Vương Chủ Thực

Quỷ Vương Chủ Tài

Quỷ Vương Chủ Súc

Quỷ Vương Chủ Cầm

Quỷ Vương Chủ Thú

Quỷ Vương Chủ Mỵ

Quỷ Vương Chủ Sản

Quỷ Vương Chủ Mạng

Quỷ Vương Chủ Tật

Quỷ Vương Chủ Hiểm

Quỷ Vương Tam Mục

Quỷ Vương Tứ Mục

Quỷ Vương Ngũ Mục

Kỳ Lợi Thất Vương

Ðại Kỳ Lợi Thất Vương

Kỳ Lợi Xoa Vương

Ðại Kỳ Lợi Xoa Vương

A Na Tra Vương

Ðại A Na Tra Vương.

Những Ðại Quỷ Vương như thế, mỗi vị cùng trăm nghìn tiểu quỷ vương, đều cư ngụ ở cõi Diêm Phù Ðề, ai nấy đều có chức trách, coi phần việc riêng. Các vị Quỷ Vương cùng Vua Diêm La, nương oai thần của Ðức Phật và oai lực của Ðịa Tạng Bồ Tát, đồng lên cung trời Ðao Lợi, đứng qua một phía. Bấy giờ, Thiên Vương Diêm La quỳ gối chắp tay bạch Ðức Phật rằng: Bạch Ðức Thế Tôn! Nay chúng con cùng các vị Quỷ Vương, nhờ nương oai thần của Phật và oai lực của Ðịa Tạng Bồ Tát, mới được lên đến đại hội nơi cung trời Ðao Lợi này, cũng vì chúng con được phúc lành vậy. Nay con có chút nghi ngờ, dám bạch hỏi Ðức Thế Tôn, cúi xin Thế Tôn từ bi chỉ dạy. Ðức Phật bảo Vua Diêm La: “Cho phép ông hỏi, Ta sẽ vì ông nói rõ”. Bấy giờ, Diêm La chiêm ngưỡng đỉnh lễ Thế Tôn, và ngoái nhìn Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát, rồi bạch cùng Ðức Phật rằng: Bạch Ðức Thế Tôn! Con xem xét Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát, ở trong sáu đường, dùng trăm nghìn phương chước để cứu độ những chúng sinh mắc tội khổ, chẳng từ mệt nhọc. Ngài Địa Tạng Bồ Tát đây có những thần thông không thể nghĩ bàn như thế, nhưng sao chúng sinh vừa được thoát khỏi tội báo, chẳng bao lâu lại phải đọa vào ác đạo nữa? Bạch Ðức Thế Tôn! Bồ Tát Ðịa Tạng đã có thần lực không thể nghĩ bàn như thế, cớ sao chúng sinh chẳng chịu nương về thiện đạo để được giải thoát mãi mãi? Cúi xin Ðức Thế Tôn dạy rõ việc đó cho chúng con. Ðức Phật bảo Vua Diêm La: Chúng sinh trong cõi Nam Diêm Phù Ðề tính tình cứng cỏi, khó dạy khó sửa. Ngài Địa Tạng Bồ Tát đây, trong trăm nghìn kiếp, đã từng cứu vớt những chúng sinh đó, làm cho sớm được giải thoát. Những người bị tội báo cho đến bị đọa vào chốn đại ác đạo, Bồ Tát dùng sức phương tiện nhổ sạch cội gốc nghiệp duyên, làm cho chúng sinh đó hiểu các việc đời trước. Nhưng vì chúng sinh trong cõi Diêm Phù kết nghiệp ác nặng, vừa thoát ra khỏi ác đạo, rồi lại trở vào, làm nhọc cho Ngài Địa Tạng Bồ Tát phải trải qua nhiều số kiếp để cứu độ chúng. Ví như có người quên mất nhà mình, lạc vào đường hiểm; trong con đường hiểm đó có rất nhiều thứ quỷ Dạ Xoa, cọp, sói, sư tử, rắn độc, bò cạp. Người mê muội đó ở trong đường hiểm chỉ chừng giây lát là sẽ bị hại. Có một vị Thiện Tri Thức hiểu nhiều phép thuật, có thể ngăn trừ độc hại, cho đến trừ quỷ Dạ Xoa cùng các ác độc..., chợt gặp người mê muội kia, đang muốn vào đường hiểm nạn, bèn vội bảo rằng: Ô hay, ông kia! Vì cớ gì mà đi vào đường hiểm nạn này? Ông có phép thuật lạ gì có thể ngăn trừ các thứ độc hại được chăng? Người lạc đường nghe lời ấy chợt mới biết là đường hiểm, liền lùi trở lại, muốn ra khỏi con đường đó. Vị Thiện Tri Thức nắm tay dìu dắt, dẫn người lạc lối, ra khỏi đường hiểm, tránh khỏi các sự ác độc, và đến con đường tốt lành, làm cho an ổn; rồi liền bảo rằng: “Này người lạc đường! Từ nay về sau chớ có đi vào con đường đó nữa. Ai mà vào đường hiểm đó ắt khó ra được, còn bị tổn hại tính mạng”. Người lạc đường đó sinh lòng cảm trọng. Lúc từ biệt nhau, vị Thiện Tri Thức lại căn dặn thêm: “Nếu có gặp người thân quen, cùng người đi đường, hoặc trai hoặc gái, hãy bảo với họ rằng con đường đó có nhiều ác độc, vào đó có thể mất cả tính mạng. Chớ để cho những người ấy tự vào chỗ chết”. Vì thế nên Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát đầy đủ đức đại từ bi, cứu vớt những chúng sinh mắc tội khổ, khiến cho được sinh cõi Trời, cõi người, hưởng sự vui sướng vi diệu. Những kẻ có tội đó đã rõ biết sự khổ trong nghiệp đạo rồi, khi đã ra khỏi, vĩnh viễn chẳng còn trở vào đó nữa; như người lạc đường đi lầm vào con đường hiểm, gặp Thiện Tri Thức dẫn dắt cho ra, không bao giờ còn lạc vào đó nữa. Khi gặp gỡ người khác lại khuyên họ chớ vào đường ấy, còn tự nói rằng: “Tôi bị mê lầm, nay thoát ra rồi, không còn trở vào đó nữa. Nếu đi vào nữa, thời còn mê lầm, không biết đó là con đường hiểm nạn, mình từng lạc vào, thì có thể đến rồi phải mất mạng”. Có những chúng sinh bị đọa vào chốn ác đạo, Ðịa Tạng Bồ Tát dùng sức phương tiện khiến được giải thoát, sinh vào cõi Trời, cõi người, nhưng rồi họ lại trở vào ác đạo lần nữa; nếu như kết nghiệp quá nặng thì họ phải ở mãi chốn địa ngục, không lúc nào được giải thoát. Bấy giờ, Quỷ Vương Ác Ðộc chắp tay cung kính bạch Ðức Phật rằng: Bạch Ðức Thế Tôn! Hàng Quỷ Vương chúng con số đông vô lượng, ở cõi Diêm Phù Ðề hoặc làm lợi ích cho người, hoặc làm tổn hại cho người, mỗi mỗi đều không giống nhau. Nhưng vì nghiệp báo khiến cho quyến thuộc chúng con đi khắp thế giới làm việc ác nhiều, làm việc thiện ít. Ði qua sân nhà người ta, hoặc qua thành phố, xóm làng, trang trại, vườn cây, buồng nhà, trong đó nếu như có người nam kẻ nữ nào tu được chút phúc thiện bằng mảy lông sợi tóc; cho đến treo một tràng phan, một bảo cái, dâng chút hương, chút hoa cúng dàng tượng Phật cùng tượng Bồ Tát, hoặc đọc Tôn Kinh, đốt hương cúng dàng cho một bài kệ, một câu kinh…, thì hàng Quỷ Vương chúng con sẽ luôn kính lễ người đó như kính lễ các Đức Phật quá khứ, hiện tại cùng đời vị lai. Chúng con ra lệnh cho các tiểu quỷ có oai lực lớn và Thần Thổ Ðịa đều phải bảo vệ, che chở, chẳng để cho các việc dữ, hay các tai nạn bất kỳ, hoặc bệnh nan y, hiểm nghèo, cho đến những việc không được vừa ý đến gần chỗ các nhà đó, huống là để cho vào cửa! Ðức Phật khen Quỷ Vương rằng: “Lành thay! Lành thay! Các ông cùng Vua Diêm La có thể ủng hộ thiện nam thiện nữ như thế! Ta cũng bảo các vị Trời Phạm Vương, Ðế Thích hộ vệ các ông!”. Ðức Phật nói lời ấy xong, trong Pháp Hội có một vị Quỷ Vương tên là Chủ Mạng bạch cùng Ðức Phật rằng: Bạch Ðức Thế Tôn! Nghiệp duyên căn bản của con là chủ về tuổi thọ của người ở cõi Diêm Phù Ðề, khi sinh khi tử do con làm chủ. Bản nguyện của con rất muốn làm lợi ích cho mọi người, nhưng vì chúng sinh không hiểu ý con, nên đến nỗi khi sinh tử đều không có được an ổn; tại vì sao thế? Người cõi Diêm Phù, lúc mới sinh xong, không kể là sinh con trai hay gái, hoặc khi sắp sinh, chỉ nên làm việc phúc thiện để thêm lợi ích nhà cửa, thì Thần Thổ Ðịa vô cùng hoan hỷ, ủng hộ cả mẹ lẫn con đều được nhiều sự an vui, hàng quyến thuộc cũng được hưởng phúc lợi. Hoặc khi đã hạ sinh rồi, thì nên cẩn thận, chớ có giết hại để lấy những vị tươi ngon cung cấp người sản mẫu, hoặc cùng nhóm họp quyến thuộc lại để uống rượu, ăn thịt, ca hát, đàn, sáo; vì có thể kiến cả mẹ lẫn con chẳng được an lạc. Tại vì sao thế? Bởi lúc sinh nở khó khăn nguy hiểm, có vô số loài ác quỷ, ma quái, tinh mỵ, muốn ăn huyết tanh. Chính nhờ có con đã sớm sai các Thần Linh xá trạch, Thổ Địa, bảo hộ mẹ con người ấy, làm cho họ được an vui mà hưởng nhiều sự lợi ích. Những người này thấy mình được an ổn vui vẻ, đáng lẽ nên tạo phúc lành để báo đáp lại các Thần Thổ Ðịa, thế mà họ còn giết hại, tụ tập thân quyến; vì lẽ này, hễ phạm tội tất phải tự gánh chịu lấy tai vạ, mẹ con đều bị tổn hại! Lại ở cõi Diêm Phù Ðề, những người đến lúc mạng chung, bất luận là thiện hay ác, con đều muốn cho họ không bị đọa vào chốn đường ác; huống chi là kẻ tự tu thiện căn, giúp tăng oai lực của con! Những người làm thiện ở cõi Diêm Phù, đến lúc lâm chung cũng còn có trăm nghìn Quỷ Thần ác, hoặc biến hóa làm cha mẹ, cho đến hóa làm quyến thuộc, dẫn dắt thần thức người chết khiến cho lạc vào ác đạo; huống chi là kẻ vốn đã tạo ác! Bạch Ðức Thế Tôn! Những kẻ nam người nữ ở cõi Diêm Phù Ðề, lúc lâm chung thì thần thức hôn ám mê muội, không phân biệt được thiện ác, cho đến mắt và tai đều không còn thấy nghe gì nữa. Hàng quyến thuộc phải nên sắm thiết đại cúng dàng, đọc tụng Tôn Kinh, niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát; làm những thiện duyên phúc lành như thế, có thể khiến cho người chết thoát khỏi đường ác, và các ma quỷ, ác thần đều phải lui tan hết cả. Bạch Ðức Thế Tôn! Tất cả chúng sinh vào lúc lâm chung nếu được nghe đến danh hiệu của một Đức Phật, danh hiệu của một Bồ Tát, hoặc một câu, một bài kệ Kinh điển Ðại Thừa, con xét thấy hạng người ấy, trừ năm tội nặng Vô Gián và tội sát hại, còn những nghiệp ác nho nhỏ đáng phải đọa vào đường ác, thì chẳng bao lâu đều được thoát khỏi. Ðức Phật bảo Chủ Mạng Quỷ Vương rằng: “Ông vì lòng đại từ nên có thể phát đại nguyện, ở trong sinh tử cứu hộ chúng sinh như thế. Như trong đời sau, có kẻ nam người nữ nào, lúc đến thời điểm sinh tử, thì ông chớ quên lãng lời nguyện đó, mà nên làm cho đều được giải thoát, mãi mãi an vui”. Chủ Mạng Quỷ Vương bạch cùng Ðức Phật rằng: “Xin Ðức Thế Tôn chớ lo! Trọn đời con luôn ủng hộ chúng sinh ở cõi Nam Diêm Phù Ðề, làm cho lúc sinh lúc tử đều được an vui. Chỉ trông mong các chúng sinh, trong lúc sinh cùng lúc tử, tin theo lời con đã nói ở trên, thì không ai là không được giải thoát và được lợi ích lớn cả!”. Bấy giờ, Ðức Phật bảo Ngài Ðịa Tạng Đại Bồ Tát rằng: “Vị Ðại Quỷ Vương chủ về sinh mạng đây, đã từng trải qua trăm nghìn đời làm vị Ðại Quỷ Vương, ủng hộ chúng sinh trong lúc sinh và lúc tử. Bậc Ðại Sĩ này vì lòng từ bi phát nguyện hiện thân Đại Quỷ, chớ thật ra không phải quỷ”. Quá một trăm bảy mươi kiếp về sau, ông ấy sẽ được thành Phật hiệu là Vô Tướng Như Lai, kiếp đó tên là An Lạc, thế giới tên là Tịnh Trụ, thọ mạng của Ðức Phật đó đến số kiếp không thể tính đếm được. Này Ðịa Tạng Đại Bồ Tát! Những việc của vị Ðại Quỷ Vương đó không thể nghĩ bàn như thế; hàng Trời, người được độ thoát cũng đến số không thể hạn lượng được.

 

     

 

 PHẨM THỨ CHÍN

XƯNG DANH HIỆU CHƯ PHẬT

Lúc đó, Ngài Ðịa Tạng Đại Bồ Tát bạch Ðức Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Nay con vì chúng sinh trong đời sau mà diễn nói về lợi ích, làm cho họ ở trong vòng sinh tử được những lợi ích lớn lao. Cúi xin Ðức Thế Tôn lắng nghe điều con nói”. Ðức Phật bảo Ðịa Tạng Bồ Tát rằng: “Nay ông muốn khởi lòng từ bi, cứu vớt tất cả chúng sinh mắc tội khổ trong sáu đường, mà diễn nói sự chẳng thể nghĩ bàn. Bây giờ chính đã phải lúc, vậy ông nên nói ngay đi. Ông hãy sớm hoàn tất lời nguyện đó. Ta dù có vào Niết Bàn, cũng không còn phải lo nghĩ gì đến tất cả chúng sinh ở đời hiện tại và vị lai nữa”. Ðịa Tạng Bồ Tát bạch Ðức Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Vô lượng vô số kiếp về quá khứ, có Đức Phật ra đời hiệu là Vô Biên Thân Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Phật này mà tạm sinh lòng cung kính, thì liền được thoát tội nặng sinh tử trong bốn mươi kiếp; huống là vẽ đắp hình tượng, cúng dàng, tán thán! Người này sẽ được vô lượng vô biên phúc báo”. Lại Hằng hà sa số kiếp về thuở quá khứ, có Phật ra đời hiệu là Bảo Thắng Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Phật này, và trong khoảnh khắc bằng khảy móng tay, phát tâm quy y, người đó vĩnh viễn không còn thoái chuyển nơi Ðạo Vô Thượng. Lại về quá khứ, có Phật ra đời hiệu là Ba Ðầu Ma Thắng Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức Phật thoáng qua lỗ tai, người đó sẽ được một nghìn lần sinh cõi Trời Lục Dục, huống chi là luôn chí tâm xưng niệm! Lại không thể nói hết được, không thể nói hết vô số kiếp về quá khứ, có Đức Phật ra đời hiệu là Sư Tử Hống Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Phật này, phát tâm quy y chừng trong một niệm, người ấy rồi sẽ được, gặp vô lượng Chư Phật xoa đỉnh mà thọ ký cho. Lại về quá khứ, có Đức Phật ra đời hiệu là Câu Lưu Tôn Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức Phật này mà chí tâm chiêm lễ hoặc lại tán thán, người ấy nơi Pháp Hội của một nghìn Đức Phật trong thời Hiền Kiếp sẽ làm vị Ðại Phạm Vương, được Phật thọ ký Đạo Vô thượng cho. Lại về quá khứ, có Đức Phật ra đời hiệu là Tỳ Bà Thi Như Lai. Như có người nam người nữ nào được nghe danh hiệu của Phật này, thì vĩnh viễn không sa đọa vào chốn ác đạo, thường được sinh vào chốn Trời, người, hưởng sự vui thù thắng vi diệu. Lại vô lượng vô số Hằng hà sa kiếp về thuở quá khứ, có Phật ra đời hiệu là Đa Bảo Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu Ðức Phật này, thì sẽ không bao giờ bị đọa vào ác đạo, mà thường ở trên cõi Trời, hưởng vui thù thắng vi diệu. Lại về quá khứ, có Phật ra đời hiệu là Bảo Tướng Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu Ðức Phật này, sinh lòng cung kính, thì không bao lâu người ấy sẽ đắc quả A La Hán. Lại vô lượng vô số kiếp về thuở quá khứ, có Phật ra đời hiệu là Ca Sa Tràng Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu Ðức Phật này, thì sẽ siêu thoát tội sinh tử trong một trăm đại kiếp. Lại về quá khứ, có Phật ra đời hiệu là Ðại Thông Sơn Vương Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu Ðức Phật này, thì người ấy sẽ được gặp Chư Phật nhiều như số cát sông Hằng, rộng  thuyết giáo Pháp cho và thành tựu Đạo Bồ Đề. Lại về thuở quá khứ, có Ðức Tịnh Nguyệt Phật, Ðức Sơn Vương Phật, Ðức Trí Thắng Phật, Ðức Tịnh Danh Vương Phật, Ðức Trí Thành Tựu Phật, Ðức Vô Thượng Phật, Ðức Diệu Thanh Phật, Ðức Mãn Nguyệt Phật, Ðức Nguyệt Diện Phật, và các Đức Phật như thế không thể nói hết. Bạch Ðức Thế Tôn! Tất cả chúng sinh trong thời hiện tại cùng đời sau này, hoặc Trời hoặc người, hoặc nam hoặc nữ, chỉ niệm được danh hiệu của một Đức Phật thôi, sẽ được vô lượng công đức, huống là niệm niệm được nhiều danh hiệu! Những chúng sinh đó lúc sinh lúc tử đều được lợi ích lớn lao, cuối cùng không phải đọa vào ác đạo. Như có người nào sắp sửa mạng chung, quyến thuộc trong nhà dù chỉ một người, vì người bệnh đó mà lớn tiếng niệm một danh hiệu Phật, thì người sắp sửa chết đó, trừ năm tội nặng Vô Gián, còn các nghiệp báo nhẹ khác đều được tiêu tan. Năm tội Vô Gián dầu rất nặng nề, đáng lẽ trải qua ức kiếp không được ra khỏi, nhưng nhờ lúc lâm chung được người khác vì mình mà xưng niệm danh hiệu của Chư Phật, cho nên những tội nặng đó rồi cũng lần lần tiêu sạch; huống hồ chúng sinh tự xưng tự niệm danh hiệu Chư Phật, tất được vô lượng phúc báo, trừ diệt vô lượng nghiệp tội. 

 

 KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BẢN NGUYỆN

Hết Quyển Trung

 

KỆ TÁN

Kinh Địa Tạng Bản Hạnh

Sức thệ nguyện rộng sâu

Chúng sinh độ hết thảy

Gậy tích, ngọc minh châu

Rộng toang cửa địa ngục

Soi sáng cõi u sầu

Dốc lòng thành tinh tiến

Khỏi đọa chốn khổ đau.

Nam mô Thường Trụ Thập Phương Pháp.(3 lần) o

Nam mô Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần) o

 

QUYỂN HẠ

PHẨM THỨ MƯỜI

SO SÁNH NHÂN DUYÊN CÔNG ÐỨC BỐ THÍ

Lúc đó, Ngài Ðịa Tạng Đại Bồ Tát nương oai thần của Ðức Phật, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối, chắp tay bạch Đức Phật rằng: Bạch Ðức Thế Tôn! Con xem xét chúng sinh trong nghiệp đạo, so sánh về sự bố thí thì có nặng nhẹ. Có người được hưởng phúc trong một đời; có người được hưởng phúc trong mười đời; có người được hưởng phúc lợi lớn trong trăm đời, nghìn đời. Những việc này như thế nào? Cúi xin Ðức Thế Tôn chỉ dạy cho con rõ. Bấy giờ, Ðức Phật bảo Ðịa Tạng Bồ Tát rằng: “Nay Ta trong thể chúng hội nơi cung trời Ðao Lợi này, giảng về so sánh công đức khinh trọng của việc bố thí ở Diêm Phù Ðề. Ông phải lắng nghe, Ta sẽ vì ông mà nói!”. Ðịa Tạng Bồ Tát bạch Đức Phật rằng: “Con đang hoài nghi việc ấy, nên con rất muốn được nghe”. Ðức Phật bảo Ðịa Tạng Bồ Tát rằng: “Ở cõi Nam Diêm Phù Ðề, có các Quốc Vương, các hàng Tể Phụ, Ðại Thần, hàng Ðại Trưởng Giả, Ðại Sát Đế Lợi, Ðại La Môn... Nếu gặp những kẻ bần cùng, cả đến những kẻ tật nguyền, ngọng, câm, điếc, ngây, mù quáng, những người không được vẹn toàn như thế; khi các vị Ðại Quốc Vương đó muốn bố thí, nếu có thể đủ lòng đại từ bi, vui vẻ hạ mình, tự tay đem của bố thí cùng khắp, hoặc sai bảo người bố thí, dùng lời ôn hòa, dịu dàng an ủi; thì các Quốc Vương, Đại Thần đó sẽ có được phúc lợi bằng phúc lợi của công đức cúng dàng Chư Phật, nhiều như số cát một trăm sông Hằng. Tại vì sao vậy? Chính bởi các Quốc Vương đó đã phát tâm đại từ bi đối với những kẻ thấp kém bần cùng, cùng những người khuyết tật kia, cho nên được quả báo phúc lợi lớn như thế, trong trăm nghìn đời thường được đầy đủ những đồ thất bảo, huống là những thứ thọ dụng, y phục, đồ ăn thức uống! Lại nữa, Ðịa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau này, nếu có các vị Quốc Vương cho đến hàng Bà La Môn... gặp nơi chùa tháp thờ Phật, hoặc hình tượng Phật, hình tượng Bồ Tát, Thanh Văn, hoặc Bích Chi Phật, bèn đích thân tự thu xếp sửa sang, cúng dàng, bố thí, thì các Quốc Vương đó sẽ được trong ba kiếp làm Trời Ðế Thích, hưởng sự vui sướng thù thắng, vi diệu. Nếu có thể đem phúc bố thí này hồi hướng cho tất cả chúng sinh trong Pháp giới, thì các Ðại Quốc Vương đó, trong mười kiếp thường được làm vị Trời Ðại Phạm Thiên Vương. Lại nữa, Ðịa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau này, nếu có Quốc Vương cho đến hàng Bà La Môn..., gặp chùa tháp của Chư Phật thuở trước, hoặc cả Kinh điển, hay hình tượng bị hư hoại, rách nát, liền có thể phát tâm tu bổ lại. Các Quốc Vương đó, hoặc tự lo liệu sửa sang, hoặc khuyến hóa cho người khác, thậm chí cả trăm nghìn người cùng bố thí để kết Pháp duyên lành; thì các vị Quốc Vương đó trong trăm nghìn đời thường được làm Chuyển Luân Vương; còn những người cùng chung làm việc bố thí đó, trong trăm nghìn đời thường làm Vua các nước nhỏ. Nếu lại có thể ở trước chùa tháp mà phát tâm đem công đức cúng dàng bố thí, hồi hướng về Đạo vô thượng Chính Giác, thì các Quốc Vương đến tất cả những người đó, đều sẽ thành Phật, bởi quả báo ấy vô lượng vô biên. Lại nữa, Ðịa Tạng! Trong đời sau này, như có các vị Quốc Vương cùng Bà La Môn..., gặp người già yếu, tật bệnh, phụ nữ sinh đẻ, nếu trong khoảng chừng một niệm mà đầy đủ lòng đại từ, đem những thuốc men, đồ ăn thức uống, mền chiếu bố thí, khiến cho họ được an vui, thì phúc lợi đó không thể nghĩ bàn đến được; trong một trăm kiếp thường được làm Thiên Chủ Trời Tịnh Cư, trong hai trăm kiếp thường được làm Vua cõi Lục Dục Thiên, vĩnh viễn không còn đọa vào ác đạo, cho đến trong trăm nghìn đời, lỗ tai không hề nghe đến tiếng khổ; rốt ráo sẽ được thành Phật. Lại nữa, Ðịa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau này, như có các vị Quốc Vương cùng Bà La Môn..., có thể làm việc bố thí như thế, sẽ được vô lượng phúc lành. Nếu lại có thể đem phúc đức đó hồi hướng về Đạo Bồ Đề, không kể là nhiều hay ít, rốt ráo đều sẽ thành Phật; huống gì là những quả báo làm Trời Đế Thích, Phạm Vương, làm Chuyển Luân Vương! Vì thế, Ðịa Tạng Bồ Tát! Ông nên khuyến hóa chúng sinh đều phải học theo như thế! Lại nữa, Ðịa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau này, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào trong Phật Pháp mà gieo trồng chút phúc thiện chừng bằng mảy lông, sợi tóc, hạt cát, hạt bụi, thì phúc lợi được thọ hưởng sẽ không thể ví thế nào cho được. Lại nữa, Ðịa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau này, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp hình tượng Chư Phật, hình tượng Bồ Tát, hình Bích Chi Phật, hình Vua Chuyển Luân mà hành bố thí cúng dàng, thì được vô lượng phúc báo, thường được sinh ở cõi người, cõi Trời, hưởng sự an vui thù thắng, vi diệu. Như có thể đem hồi hướng cho cả Pháp chúng sinh, thì phúc lợi của người ấy sẽ không thể ví thế nào cho được. Lại nữa, Ðịa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau này, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp Kinh điển Ðại Thừa, hoặc nghe thấy một bài kệ, hoặc một câu Kinh, phát tâm ân cần trân trọng, cung kính ngợi khen, bố thí cúng dàng, thì người ấy sẽ được quả báo lớn vô lượng vô biên; nếu có thể đem phúc đức hồi hướng cho khắp Pháp giới, thì phúc báo này sẽ không thể ví thế nào cho được. Lại nữa, Ðịa Tạng Bồ Tát! Trong đời vị lai, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp Kinh điển Ðại Thừa, chùa tháp thờ Phật còn mới, thời hành bố thí cúng dàng, chiêm ngưỡng, lễ lạy, khen ngợi, chắp tay cung kính; nếu đã cũ kỹ, hư hoại, thì góp sửa sang tu bổ, hoặc riêng mình phát tâm làm, hoặc khuyên nhiều người cùng phát tâm làm. Như những người này, trong ba mươi đời thường được làm Vua nước nhỏ; còn vị Ðàn Việt chính đó thì thường làm Vua Chuyển Luân, lại dùng thiện pháp giáo hóa các vua nước nhỏ. Lại nữa, Ðịa Tạng Bồ Tát! Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào trong Phật Pháp đã gieo trồng chút phúc thiện hoặc là bố thí cúng dàng, hoặc là tu bổ chùa tháp, hoặc là sửa sang Kinh điển, cho đến chừng bằng mảy lông, hạt bụi, hạt cát, bằng một giọt nước..., những việc phúc thiện như thế, không kể nhiều ít, mà đều có thể hồi hướng cho khắp Pháp giới, thì công đức của người này trong trăm nghìn đời đều được hưởng sự vui sướng vi diệu tối thượng. Còn như chỉ hồi hướng cho thân quyến trong nhà, hoặc cho lợi ích riêng mình, thì sẽ được hưởng quả báo vui sướng ba đời, cứ thí xả một thì được báo đáp vạn lần hơn lên. Này Ðịa Tạng Bồ Tát! Nhân duyên công đức của sự bố thí là như thế đó! 

 

 PHẨM THỨ MƯỜI MỘT  

ĐỊA THẦN HỘ PHÁP

Lúc đó Kiên Lao Ðịa Thần bạch Ðức Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Từ trước đến nay, con từng chiêm ngưỡng đỉnh lễ vô lượng vị Đại Bồ Tát, đều là những bậc Đại Trí Tuệ Đại Thần Thông không thể nghĩ bàn, độ khắp chúng sinh. Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát đây so với các vị Bồ Tát, thì thệ nguyện thật sâu rộng”.

Bạch Ðức Thế Tôn! Ngài Ðịa Tạng Đại Bồ Tát có nhân duyên lớn với cõi Nam Diêm Phù Ðề. Như Ngài Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Di Lặc, cũng hóa hiện trăm nghìn thân để cứu độ chúng sinh trong sáu đường, nhưng nguyện của các Ngài còn có lúc hoàn mãn; còn Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát đã phát thệ nguyện giáo hóa tất cả chúng sinh trong sáu đường, trải đến số kiếp nhiều như số cát của trăm nghìn ức sông Hằng.

Bạch Ðức Thế Tôn! Con nghĩ chúng sinh ở đời hiện tại và đời sau này, nếu trong đất ở, tìm chỗ sạch sẽ phương Nam, mà dùng đất, đá, tre, gỗ dựng cất cái khám hoặc thất; trong đó có thể tô vẽ cho đến dùng vàng, bạc, đồng, sắt làm hình tượng Ðịa Tạng Bồ Tát, đốt hương cúng dàng, chiêm lễ, ngợi khen, thì ngay chỗ người đó ở sẽ được mười điều lợi ích. Những gì là mười:

Một là đất đai màu mỡ

Hai là nhà cửa yên ổn mãi mãi

Ba là người đã mất được sinh lên cõi Trời

Bốn là người hiện còn được tăng tuổi thọ

Năm là mọi mong cầu đều được toại ý

Sáu là không có tai họa về nước và lửa;

Bảy là tiêu trừ sạch việc hư hao

Tám là dứt hẳn ác mộng

Chín là ra vào đều có Thần theo hộ vệ

Mười là thường gặp bậc Thánh nhân.

Bạch Ðức Thế Tôn! Chúng sinh trong đời sau này, cùng đời hiện tại, nếu ở phần đất nơi mình trú ngụ, mà có thể làm ra sự cúng dàng như thế, thời được lợi ích như vậy. Kiên Lao Địa Thần lại bạch cùng Ðức Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Trong đời sau này, nếu như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào, tại nơi mình ở, mà có Kinh này cùng hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát, người đó lại còn đọc tụng Kinh này và cúng dàng hình tượng của Bồ Tát, thì con ngày đêm thường dùng thần lực hộ vệ người đó, cho đến tất cả ác sự, tai họa, như nạn nước, lửa, trộm cướp, nạn lớn nạn nhỏ thảy đều tiêu sạch”. Ðức Phật bảo Kiên Lao Ðịa Thần rằng: Thần lực rộng lớn của ông, các Thần khác ít ai bằng. Vì cớ sao vậy? Vì đất đai ở trong cõi Diêm Phù đều nhờ có ông hộ trợ; cho đến cỏ, cây, cát, đá, lúa, mè, tre, lau, gạo thóc, của báu... tất cả từ đất mà có, đều nhờ nơi sức thần của ông cả. Nay Ông lại luôn khen ngợi những sự lợi ích của Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát, thì công đức và thần thông của ông sẽ trăm nghìn phần vượt hơn bình thường. Này ông Địa Thần! Trong đời sau này, nếu như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào cúng dàng Địa Tạng Bồ Tát cùng đọc tụng Kinh điển này, dù chỉ y theo một việc trong Kinh Địa Tạng Bản Nguyện lấy mà tu hành, thì ông nên dùng thần lực của mình ủng hộ, chớ để mọi sự tai hại cùng sự không vừa ý lọt vào tai người đó, huống nữa là để cho phải chịu đựng. Chẳng phải chỉ riêng mình ông hộ trì người đó, mà cũng còn có hàng quyến thuộc của Phạm Vương, Ðế Thích, và quyến thuộc của Chư Thiên ủng hộ người đó! Tại sao người đó lại được chư vị Hiền Thánh ủng hộ như thế? Bởi vì đều do chiêm lễ hình tượng của Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát cùng tụng Kinh Bản Nguyện này, nên tự nhiên được rốt ráo xa lìa biển khổ, chứng được Niết Bàn yên vui, được sự ủng hộ lớn lao như thế.

 

    

 

PHẨM THỨ MƯỜI HAI

THẤY, NGHE ĐỀU ĐƯỢC LỢI ÍCH

Lúc đó, từ trên đỉnh đầu Đức Thế Tôn phóng ra cả trăm nghìn vạn ức tướng tia sáng lớn. Như là: Tia sáng sắc trắng, tia sáng sắc trắng lớn; tia sáng tốt lành, tia sáng tốt lành lớn; tia sáng ngọc, tia sáng ngọc lớn; tia sáng sắc tía, tia sáng sắc tía lớn; tia sáng sắc xanh, tia sáng sắc xanh lớn; tia sáng sắc xanh biếc, tia sáng sắc xanh biếc lớn; tia sáng sắc hồng, tia sáng sắc hồng lớn; tia sáng màu lục, tia sáng màu lục lớn; tia sáng màu vàng y, tia sáng màu vàng y lớn; tia sáng tướng mây lành, tia sáng tướng mây lành lớn; tia sáng nghìn vòng tròn, tia sáng nghìn vòng tròn lớn; tia sáng vòng tròn báu, tia sáng vòng tròn báu lớn; tia sáng vầng mặt trời, tia sáng vầng mặt trời lớn; tia sáng vầng mặt trăng, tia sáng vầng mặt trăng lớn; tia sáng cung điện, tia sáng cung điện lớn; tia sáng mây biển, tia sáng mây biển lớn. Từ trên đỉnh đầu phóng ra những tướng tia sáng như thế xong, lại nói ra tiếng vi diệu mà bảo đại chúng, Trời, Rồng Bát Bộ, người cùng phi nhân... rằng: “Hãy lắng nghe! Hôm nay Ta cung trời Đao Lợi, tuyên bày ngợi khen Địa Tạng Bồ Tát về những lợi ích cho hàng Trời, người, những sự không thể nghĩ bàn, những sự siêu vượt nhân Thánh, những sự chứng quả Thập Địa, những sự rốt ráo không hề thoái chuyển nơi đạo Vô thượng Chính Đẳng Chính Giác”. Đức Phật nói lời ấy xong, trong Pháp Hội có vị Đại Bồ Tát hiệu là Quán Thế Âm liền từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối chắp tay mà bạch cùng Đức Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Ngài Địa Tạng Đại Bồ Tát đầy đủ đức đại từ bi, thương xót chúng sinh mắc tội khổ báo trong nghìn vạn ức thế giới. Bồ Tát hóa hiện nghìn vạn ức thân, bao nhiêu công đức cùng sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn. Con đã được nghe Đức Thế Tôn cùng vô lượng Chư Phật mười phương, khác miệng đồng lời ngợi khen Địa Tạng Bồ Tát, dầu cho Chư Phật trong thuở quá khứ, hiện tại, vị lai, đều tuyên nói công đức lớn lao đó, vẫn chẳng thể nói hết được. Vừa rồi lại được Đức Thế Tôn bảo khắp đại chúng rằng muốn tuyên nói các sự lợi ích của Địa Tạng Bồ Tát. Cúi mong Thế Tôn, vì các chúng sinh ở đời hiện tại và đời sau này, mà tuyên nói sự chẳng thể nghĩ bàn của Ngài Địa Tạng Bồ Tát, khiến cho các chúng Thiên Long Bát Bộ chiêm lễ để được phúc lành. Đức Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm: Ông có đại nhân duyên với chúng sinh thế giới Sa Bà. Nếu hàng Trời hoặc Rồng, hoặc kẻ nam người nữ, hoặc Thần hoặc Quỷ, cho đến các chúng sinh tội khổ trong sáu đường, nghe được danh hiệu của ông, thấy hình tượng ông, mến tưởng đến ông, ca ngợi khen ông; những chúng sinh ấy đều ở nơi Đạo Vô Thượng chẳng còn thoái chuyển, thường được sinh vào cõi người, cõi Trời, hưởng đủ an vui vi diệu; khi nhân quả sắp thành thục, liền được gặp Phật mà thọ ký cho. Nay ông sẵn lòng đại từ đại bi, thương xót chúng sinh cùng hàng Thiên, Long Bát Bộ, mà muốn nghe Ta tuyên nói những sự lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của Ngài Địa Tạng Bồ Tát. Ông hãy lắng nghe, nay Ta nói rõ. Ngài Quán Thế Âm bạch rằng: “Vâng! Bạch Đức Thế Tôn! Con xin được nghe”. Đức Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm: “Trong các thế giới về thuở hiện tại và đời sau này, vị Thiên nhân nào phúc Trời thọ hưởng đã hết, năm tướng suy hao hiện ra, hoặc có vị phải đọa lạc nơi chốn ác đạo; các vị Trời đó, hoặc nam hoặc nữ, đang lúc tướng suy hiện ra, mà hoặc thấy được hình tượng của Ngài Địa Tạng Bồ Tát, hoặc nghe được danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát, rồi lại một lần chiêm ngưỡng một lần đỉnh lễ, thì vị Trời đó được hưởng phúc trời thêm lớn, hưởng nhiều vui sướng, vĩnh viễn không phải đọa lạc vào ba đường ác; huống chi là được thấy tượng, được nghe tên của Địa Tạng Bồ Tát, rồi đem các thức hương hoa, y phục, đồ ăn thức uống, vật báu, chuỗi ngọc... bố thí cúng dàng, thì được vô lượng vô biên công đức phúc lợi”.

Lại nữa, này Quán Thế Âm! Trong các thế giới về thuở hiện tại và đời sau này, nếu những chúng sinh trong sáu đường, lúc sắp mạng chung mà được nghe một tiếng danh hiệu Ngài Địa Tạng Bồ Tát thoáng qua lỗ tai, thì chúng sinh đó vĩnh viễn không còn phải qua nỗi khổ nơi Ba Ác Đạo. Huống chi lúc sắp mạng chung, cha mẹ cùng hàng thân quyến lấy đem nhà cửa, tài vật, của báu, y phục... của người sắp chết, làm của chi phí, đắp, vẽ hình tượng Địa Tạng Bồ Tát; hoặc làm cho người bệnh lúc chưa chết, mắt thấy tai nghe, biết rằng quyến thuộc lấy đem nhà cửa, vật báu... vì mình chi dùng đắp vẽ hình tượng Địa Tạng Bồ Tát; người đó nếu do nghiệp báo phải chịu bệnh nặng, nhờ công đức này liền được khỏi bệnh, tuổi thọ thêm lâu. Còn nếu người đó nghiệp báo sinh mạng đã hết, đáng phải chịu nhiều tội chướng, nghiệp chướng, đọa vào đường ác; nhờ công đức này, sau khi mạng chung liền được sinh vào cõi Trời, cõi người, hưởng sự an vui thù thắng vi diệu, tất cả tội chướng đều được tiêu trừ.

Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời sau này, nếu kẻ nam người nữ nào, lúc còn bú mớm, hoặc lúc ba tuổi, năm tuổi, mười tuổi trở xuống mà chết mất cha mất mẹ, cho đến chết mất anh em chị em; đến khi khôn lớn thường nhớ tưởng đến cha mẹ cùng hàng thân quyến, không rõ họ bị đọa lạc chốn nào, hoặc sinh về thế giới nào, hoặc sinh trong cõi Trời nào. Người đó có thể đắp vẽ hình tượng Địa Tạng Bồ Tát, thậm chí nghe tên, một lần chiêm ngưỡng một lần đỉnh lễ, trong từ một ngày cho đến bảy ngày, đừng thoái thất nguyện ban đầu mà nghe danh hiệu, ngắm hình tượng Ngài, chiêm lễ, cúng dàng; thì thân quyến của người đó nếu do ác nghiệp mà bị đọa vào đường ác, lẽ ra phải chịu đến nhiều số kiếp, nay nhờ công đức đắp vẽ hình tượng, chiêm lễ Địa Tạng Bồ Tát của hàng con cái, anh em chị em; liền được giải thoát, sinh trong cõi Trời cõi người, hưởng sự an vui thù thắng vi diệu. Còn như quyến thuộc của người đó có phúc lực, đã được sinh vào cõi Trời, cõi người, đã được hưởng thọ an vui thù thắng vi diệu; nhờ công đức này mà nghiệp nhân bậc Thánh thêm tăng trưởng, hưởng vô lượng sự an vui. Nếu như người đó, trong hai mốt ngày, có thể nhất tâm chiêm lễ hình tượng Địa Tạng Bồ Tát, niệm danh hiệu Ngài đủ một vạn biến, thì sẽ được Ngài hiện thân vô biên, mách bảo người đó cõi giới mà quyến thuộc đã sinh về; hoặc trong giấc mộng, Bồ Tát hiện đại thần lực, tự dắt người đó đến các thế giới thấy hàng quyến thuộc của mình. Nếu người đó lại mỗi ngày niệm danh hiệu Bồ Tát một nghìn biến, liền luôn đến một nghìn ngày, thì người đó sẽ được Bồ Tát sai các vị Quỷ Thần, Thổ Địa sở tại, hộ vệ trọn đời, hiện đời thức ăn đồ mặc dư dật, không có các thứ bệnh khổ, cho đến các sự tai vạ còn không hề vào đến cửa, huống chi là đến nơi thân! Người đó rốt ráo sẽ được Ngài Địa Tạng Bồ Tát xoa đỉnh thọ ký cho.

Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời sau này, nếu kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn phát lòng từ rộng lớn cứu độ tất cả chúng sinh, muốn tu theo Đạo Bồ Đề Vô Thượng, muốn thoát ra khỏi Tam Giới; những người đó thấy hình tượng, cùng nghe danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, chí tâm quy y, hoặc đem hương hoa, y phục, vật báu, đồ ăn thức uống cúng dàng chiêm lễ, thì điều nguyện cầu của các thiện nam thiện nữ đó sẽ chóng được thành tựu, không bao giờ bị chướng ngại.

Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời sau này, nếu kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn cầu trăm nghìn vạn ức điều nguyện, trăm nghìn vạn ức sự việc hiện tại, vị lai; nên chỉ quy y, chiêm lễ, cúng dàng, ngợi khen hình tượng của Ngài Địa Tạng Bồ Tát; thì các sở nguyện sở cầu như thế tất đều được thành tựu cả. Nếu lại cầu mong Địa Tạng Bồ Tát, vận đức từ bi rộng lớn, ủng hộ mãi cho, thì người đó trong giấc chiêm bao liền được Ngài Địa Tạng Bồ Tát xoa đỉnh thọ ký.

Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời sau này, nếu kẻ thiện nam người thiện nữ nào đối với Kinh điển Đại Thừa sinh lòng trân trọng thâm sâu, phát tâm không nghĩ không bàn, muốn đọc, muốn tụng; nhưng dầu gặp được minh sư dạy bảo thành thục, song đọc rồi quên, trải đến cả tháng, cả năm vẫn không thể đọc tụng được; những thiện nam này vì có nghiệp chướng đời trước chưa tiêu trừ sạch, cho nên đối với Kinh điển Đại Thừa không có công năng đọc tụng. Những hạng người này, khi nghe danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, cùng thấy hình tượng của Ngài, thì nên đem hết bản tâm cung kính bày tỏ; rồi dùng hương hoa, y phục, đồ ăn thức uống, cùng tất cả đồ chơi cúng dàng Bồ Tát. Lại đem một chén nước trong, đặt trước hình tượng Bồ Tát một ngày một đêm, sau đó cung kính chắp tay thỉnh xin để uống, mặt quay về hướng Nam; khi nước sắp vào miệng phải chí tâm trịnh trọng. Uống nước xong rồi, phải kiêng ngũ tân, rượu, thịt, tà dâm, vọng ngữ và các việc giết hại trong bảy ngày, hoặc hai mốt ngày. Những thiện nam thiện nữ này, trong giấc chiêm bao sẽ thấy Địa Tạng Bồ Tát hiện thân vô biên, đến chỗ họ ở mà rưới nước quán đỉnh cho. Sau khi thức dậy liền được thông minh, các Kinh điển khi lọt vào nhĩ căn thì liền nhớ mãi, không còn quên một câu kinh hay bài kệ nữa!

Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có những người ăn mặc không đủ, cầu gì cũng không toại nguyện, hoặc nhiều bệnh tật, nhiều sự hung suy, nhà cửa không được yên ổn, quyến thuộc phân tán, hoặc các tai vạ cứ xảy đến làm thiệt thân, khi ngủ thường mộng thấy điều kinh sợ; những người như thế, khi nghe danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, thấy hình tượng Ngài, chí tâm cung kính tụng niệm đủ một vạn biến, thì những sự không như ý rồi sẽ tiêu sạch lần lần, liền được an vui, đồ ăn đồ mặc dư dật, cho đến trong giấc mộng đều an vui.

Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có người thiện nam thiện nữ nào, hoặc việc làm ăn sinh sống, hoặc vì việc công chuyện tư, hoặc vì sự sinh sự tử, hoặc vì việc gấp, mà phải vào rừng lên núi, qua sông vượt biển, cho đến gặp nước lụt lớn, hoặc đi ngang đường hiểm trở; người đó trước nên niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát một vạn biến, thì qua nơi nào cũng có các vị Quỷ Thần hộ vệ, đi đứng nằm ngồi mãi được an lạc, cho đến dẫu gặp cọp, sói, sư tử... cùng cả mọi thứ độc hại, cũng đều không thể làm thương tổn được. Đức Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm: Địa Tạng Bồ Tát có nhân duyên lớn với Diêm Phù Đề. Nếu nói về những lợi ích mà các chúng sinh nhờ được thấy hình, nghe tên Địa Tạng Bồ Tát, thì trong cả trăm nghìn kiếp cũng không thể nói hết được. Vì thế, này Quán Thế Âm! Ông hãy dùng thần lực mà lưu truyền Kinh này, làm cho chúng sinh ở cõi Sa Bà, trong trăm nghìn vạn kiếp sau luôn được hưởng sự an lạc. Bấy giờ Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

Ta xem Địa Tạng sức oai thần

Hằng hà sa kiếp nói chẳng cùng

Thấy, nghe, một niệm chiêm ngưỡng lễ

Lợi ích Trời, người vô lượng sự

Hoặc nam, hoặc nữ, hoặc Rồng, Thần,

Báo tận sẽ sa vào đường ác

Chí tâm quy y thân Đại Sĩ 

Thọ mạng chuyển tăng, tội chướng trừ

Trẻ thơ sớm mất tình phụ mẫu

Chẳng rõ thần hồn lạc nơi đâu

Anh em chị em cùng thân thuộc

Sinh trưởng đến nay chẳng biết nhau

Hoặc nặn, hoặc vẽ hình Đại Sĩ

Cảm thương chiêm lễ chẳng muốn rời

Hai mốt ngày luôn niệm danh hiệu Bồ

Tát tất hiện thân vô biên

Chỉ rành quyến thuộc ở nơi nao

Dầu sa ác thú cũng ra mau

Nếu được sơ tâm chẳng thoái thất

Liền được xoa đỉnh, thọ Thánh ký

Bồ Đề vô thượng muốn tu hành

Thậm chí lìa xa khổ Tam Giới

Người này đã phát đại bi tâm

Trước nên chiêm lễ tượng Đại Sĩ

Hết thảy nguyện ước chóng thành tựu 

Nghiệp chướng vĩnh viễn chẳng ngăn được

Có người phát tâm tụng kinh điển

Muốn độ quần mê vượt bỉ ngạn

Dầu lập thệ nguyện chẳng nghĩ bàn

Đọc rồi liền quên, luôn sót mất

Người này nghiệp chướng khiến u

Học Đại Thừa Kinh chẳng nhớ được

Cúng dàng Địa Tạng với hương hoa

Y phục, uống ăn, cùng ngọa cụ

Bày chén nước trong trước Đại Sĩ

Cách một ngày sau bưng lấy uống

Sinh lòng trân trọng, cữ ngũ tân

Rượu, thịt, tà dâm, cùng vọng ngữ

Hai mốt ngày liền chớ sát sinh

Chí tâm nhớ tưởng Đại Sĩ danh

Trong mộng tất thấy thân vô biên

Thức giấc nhĩ căn liền lanh lợi

Đại Thừa Kinh giáo nghe qua tai

Suốt nghìn vạn đời mãi chẳng quên

Chính nhờ Đại Sĩ bất tư nghì

Thầm giúp người kia được tuệ tài

Chúng sinh nghèo khổ lại bệnh tật

Nhà cửa hung suy, quyến thuộc lìa

Ngủ mê mộng mị không an giấc

Cầu chi cũng hỏng, chẳng toại lòng

Chí tâm chiêm lễ tượng Địa Tạng

Tất cả việc ác thảy tiêu trừ

Cho đến mộng mị đều an ổn

Quỷ Thần ủng hộ, dư ăn mặc

Muốn vào núi rừng, qua sông biển

Cầm thú độc dữ cùng người ác

Ác Thần, ác quỷ, với ác phong

Hết thảy tai nạn, mọi khổ não

Chỉ cần chiêm lễ cùng cúng dàng

Địa Tạng Bồ Tát Đại Sĩ tượng

Núi rừng biển cả dẫu có vào

Tất cả sự ác đều tiêu sạch

Quán Âm hãy lắng nghe

Ta nói Địa Tạng vô tận không nghĩ bàn

Trăm nghìn muôn kiếp chẳng kể xiết

Rộng tuyên Đại Sĩ sức như vậy

Như người nghe đến Địa Tạng danh

Thậm chí thấy hình, cùng chiêm lễ

Hương hoa, thực phẩm, và y phục

Cúng dàng trăm nghìn hưởng diệu lạc

Nếu đem hồi hướng khắp Pháp giới

Rốt ráo thành Phật, thoát sinh tử

Vì thế, Quán Âm, ông hãy nên

Bảo khắp Hằng sa các cõi nước!

 

 

PHẨM THỨ MƯỜI BA

GIAO PHÓ CHO TRỜI NGƯỜI

Lúc đó, Đức Thế Tôn giơ cánh tay sắc vàng xoa đầu Ngài Địa Tạng Đại Bồ Tát bảo rằng:

Này Địa Tạng! Địa Tạng! Thần lực của ông không thể nghĩ bàn, đức từ bi cũng không thể nghĩ bàn, trí tuệ của ông không thể nghĩ bàn, biện tài của ông không thể nghĩ bàn. Dầu cho Chư Phật mười phương khen ngợi tuyên nói những sự không thể nghĩ bàn của ông, trong nghìn vạn kiếp cũng chẳng nói hết cho được. Địa Tạng! Địa Tạng! Ông hãy luôn nhớ, hôm nay Ta cung Trời Đao Lợi, nơi Đại hội có trăm nghìn vạn ức không thể nói hết, không thể nói hết tất cả Chư Phật, Bồ Tát, cùng hàng Thiên, Long, Bát Bộ… Ta một lần nữa, đem các chúng sinh trong cõi Trời, người, những kẻ còn trong Nhà Lửa, chưa thoát ra khỏi Ba cõi, nay Ta giao phó cho ông. Ông đừng để các chúng sinh đó bị đọa vào đường ác, dù là một ngày một đêm, huống là để cho họ phải đọa lạc vào địa ngục Ngũ Vô Gián cùng ngục A Tỳ, trải đến nghìn vạn ức kiếp không biết lúc nào ra khỏi! Này Địa Tạng! Chúng sinh ở cõi Nam Diêm Phù Đề tâm tính không định, quen theo thói ác thì nhiều. Dầu phát thiện tâm nhưng chốc lát liền thoái thất; nếu gặp ác duyên thì luôn tăng trưởng. Vì thế cho nên, Ta phải chia thân này ra thành trăm nghìn ức, để hóa độ tùy theo căn tính mà giải thoát cho họ. Này Địa Tạng! Nay Ta ân cần đem chúng Trời, người, giao phó cho ông. Vào đời sau này, nếu có hàng Trời, người, cùng thiện nam thiện nữ, ở trong Phật Pháp mà trồng chút ít thiện căn chừng bằng mảy lông, bằng một hạt bụi, hạt cát, bằng một giọt nước, thì ông nên dùng Đạo lực ủng hộ người đó, làm cho lần lần tu Đạo Vô Thượng, chớ để thoái thất. Lại nữa, Địa Tạng! Trong đời sau này, hoặc Trời hoặc người, phải tùy theo nghiệp mà thọ báo ứng, đọa lạc vào chốn ác đạo; lúc sắp bị đọa ác đạo hoặc vừa bước đến ngưỡng cửa địa ngục, những chúng sinh đó nếu có thể niệm được danh hiệu của Đức Phật, hay danh hiệu của một vị Bồ Tát, cùng một câu Kinh, một bài kệ của Kinh điển Đại Thừa, thì ông hãy dùng thần lực, phương tiện để cứu vớt chúng sinh đó; Ông nên hiện thân vô biên ở chỗ của các người đó, vì họ mà phá địa ngục, làm cho họ được sinh lên cõi Trời, hưởng vui thù thắng vi diệu. Bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng: “Hiện tại, vị lai, chúng Thiên, nhân Nay Ta ân cần dặn bảo ông: Dùng đại thần thông phương tiện độ Chớ để đọa vào các ác đạo”. Bấy giờ Địa Tạng Bồ Tát quỳ gối, chắp tay bạch Đức Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Cúi xin Thế Tôn chớ lo! Trong đời sau này, nếu người thiện nam kẻ thiện nữ nào, đối với Phật Pháp mà có một niệm cung kính, con cũng dùng trăm nghìn phương tiện để độ thoát người đó, làm cho mau được giải thoát trong đường sinh tử; huống nữa là nghe các việc thiện rồi niệm niệm tu hành, thì sẽ tự nhiên ở trong nơi Đạo Vô Thượng, vĩnh viễn không còn thoái chuyển. Lúc Ngài Địa Tạng nói lời ấy xong, trong Pháp Hội có vị Bồ Tát tên là Hư Không Tạng, bạch Đức Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con đến cung trời Đao Lợi nghe Đức Như Lai ngợi khen oai thần thế lực không thể nghĩ bàn của Ngài Địa Tạng Bồ Tát. Trong đời sau này, nếu người thiện nam kẻ thiện nữ nào, cho đến tất cả Trời, Rồng, nghe Kinh điển này cùng danh tự của Địa Tạng Bồ Tát, hoặc chiêm lễ hình tượng Ngài, thì sẽ được bao nhiêu điều phúc lợi? Cúi mong Thế Tôn, vì mọi chúng sinh ở đời hiện tại và đời vị lai, mà lược nói việc ấy cho. Đức Phật bảo Hư Không Tạng Bồ Tát: Lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì ông nói rõ việc ấy. Vào đời sau này, nếu người thiện nam kẻ thiện nữ nào, trông thấy hình tượng của Ngài Địa Tạng Bồ Tát, cùng nghe Kinh này, cho đến đọc tụng; bố thí cúng dàng hương hoa, đồ ăn thức uống, y phục, châu báu; ngợi khen chiêm lễ, thì được hai mươi tám điều lợi ích.

Một là Trời, Rồng thường hộ niệm

Hai là thiện quả ngày càng tăng

Ba là tích tập các nhân Thánh thượng

Bốn là tâm Bồ Đề không thoái chuyển

Năm là y phục, thực phẩm đầy đủ

Sáu là dịch bệnh không đến nơi thân

Bảy là xa lìa các tai nạn về nước, lửa

Tám là không bị tai ách trộm cướp

Chín là người khác thấy đều cung kính

Mười là Quỷ Thần đều theo hộ trì.

Mười một là đời sau thân gái sẽ chuyển thành thân trai

Mười hai là làm con gái hàng Vương giả, Đại thần

Mười ba là tướng mạo đoan chính, tốt đẹp

Mười bốn là phần nhiều được sinh lên cõi Trời

Mười lăm là có thể làm bậc Đế Vương

Mười sáu là biết rõ việc đời trước

Mười bảy là có mong cầu thì đều được toại ý

Mười tám là quyến thuộc an vui

Mười chín là các tai vạ đều dứt sạch

Hai mươi là các nghiệp ác đạo đều trừ hẳn

Hai mươi mốt là đi đâu cũng không trở ngại

Hai mươi hai là đêm nằm mộng được an ổn, vui vẻ

Hai mươi ba là tổ tiên đã mất, được lìa khổ

Hai mươi bốn là nhờ phúc đời trước mà thọ sinh về cõi vui sướng

Hai mươi lăm là chư Thánh đều khen ngợi

Hai mươi sáu là căn tính thông minh, lanh lợi

Hai mươi bảy là giàu lòng từ mẫn

Hai mươi tám là rốt ráo thành Phật.

Lại nữa, này Hư Không Tạng Bồ Tát! Như hàng Trời, Rồng, Quỷ, Thần hiện đời và đời sau này, nghe danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát, lễ bái hình tượng của Ngài, hoặc nghe các sự bản nguyện tu hành của Ngài Địa Tạng Bồ Tát, cung kính ngợi khen chiêm lễ, thì được bảy điều lợi ích.

Một là mau chứng bậc Thánh

Hai là ác nghiệp tiêu trừ

Ba là Chư Phật thường đến ủng hộ

Bốn là Bồ Đề không thoái thất

Năm là bản lực được tăng trưởng

Sáu là việc đời trước đều rõ biết

Bảy là rốt ráo thành Phật.

Bấy giờ, không thể nói hết, không thể nói hết tất cả Chư Phật Như Lai, cùng Đại Bồ Tát, Thiên, Long, Bát Bộ ở khắp mười phương, nghe Phật Thích Ca Mâu Ni ngợi khen tuyên bày sức đại oai thần không thể nghĩ bàn của Ngài Địa Tạng Bồ Tát, đều khen là sự việc chưa từng có. Lúc đó, cung trời Đao Lợi mưa xuống vô lượng hương hoa, thiên y, châu báu, cúng dàng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Địa Tạng Đại Bồ Tát. Xong rồi, tất cả đại chúng ở trong Pháp Hội đều lại chiêm lễ, chắp tay mà lui ra.

 

KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BẢN NGUYỆN

Hết Quyển Hạ

KỆ TÁN

Kinh Địa Tạng Bản Thệ

Cân nhắc các nghiệp nhân

Nào ngọng câm tàn tật

Bởi kiếp trước gây nên

Nay dốc lòng đọc tụng

Các Kinh điển Đại thừa

Được vô biên phúc lợi

Hoa sen báu ắt sinh.

Nam mô Thường Trụ Thập Phương Tăng. (3 lần) o

Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma ha tát. (3 lần) o

Đao Lợi, Thế Tôn nói

Pháp màu Địa Tạng công hạnh rất rộng sâu

Thánh Giáo mãi truyền sau chẳng ngớt

Khắp lợi Trời, Người, khỏi khổ sầu

Trời, A Tu La, Dạ Xoa thảy

Đến nghe Pháp đó nên chí tâm

Ủng hộ Phật Pháp khiến thường còn

Mỗi vị siêng tu lời Phật dạy

Bao nhiêu người nghe đến chốn này

Hoặc trên đất liền hoặc hư không

Thường đối người đời sinh từ tâm

Ngày đêm tự mình nương Pháp ở

Nguyện các thế giới thường an ổn

Phúc trí vô biên lợi quần sinh

Bao nhiêu tội nghiệp thảy tiêu trừ

Xa lìa các khổ về viên tịch

Hằng dùng giới hương xoa vóc sáng

Thường gìn định phục để giúp thân

Hoa màu Bồ Đề khắp trang nghiêm

Tùy theo chỗ ở thường an lạc.

- Nam mô Tồi Tà Phụ Chính Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát Ma ha tát. (3 lần) o

 

TÂM KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA

Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát nhã Ba la mật đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách.

Này ông Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc; Sắc tức là Không, Không tức là Sắc; Thụ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.

Này ông Xá Lợi Tử! Tướng Không của mọi Pháp, không sinh, không diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt; cho nên trong Chân Không không có Sắc, không có Thụ, Tưởng, Hành, Thức; không có Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý; không có Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp; không có Nhãn

giới, cho đến không có Ý thức giới; không có Vô minh, cũng không có cái hết Vô minh; cho đến cái già, chết, cũng không có cái hết già, chết; không có Khổ, Tập, Diệt, Đạo; không có Trí Tuệ, cũng không có chứng đắc, vì không có chỗ chứng đắc.

Bồ Tát y theo Bát nhã Ba la mật đa, nên tâm không ngăn ngại, vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa hẳn mộng tưởng điên đảo, đạt tới cứu kính Niết Bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y vào Bát nhã Ba la mật đa, mà chứng được Đạo Vô thượng Chính Đẳng Chính Giác.

Cho nên biết Bát nhã Ba la mật đa là Đại Thần chú, là Đại minh chú, là Vô thượng chú, là Vô đẳng đẳng chú, trừ được hết thảy khổ, chân thực không hư.

Vì vậy nói ra bài chú Bát nhã Ba la mật đa rằng:

Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.

(3 lần) o

 

 SÁM HỐI HỒI HƯỚNG

Đệ tử chúng con… vì sức nghiệp ma, tâm thần rối loạn, căn tính mê mờ, bỗng nhiên chợt nghĩ, thay đổi lung tung, dáo dở chất chồng, xem văn mờ ý, nhầm chữ sai câu; trái với chính âm trong đục, nệ vào tà kiến giãi bày.

Hoặc vì việc đoạt mất trí tâm chẳng để vào Kinh, đương khi tụng niệm dậy ngồi, bỏ dở câu cách quãng, ngồi lâu trễ nải, nhân đó giận hờn.

Chốn nghiêm tịnh để vương bụi nhơ, nơi kính cẩn hoặc làm cẩu thả. Thân, khẩu, mặc dùng nhếch nhác; xiêm y lễ mạo lôi thôi.

Cung chẳng như nghi, để không đúng chỗ, mở cuốn rối ren, rớt rơi, dơ nát. Hết thảy chẳng chuyên chẳng thành, thật là đáng thẹn đáng sợ.

Kính xin Chư Phật, Bồ Tát, trong cõi Pháp giới hư không, hết thảy Hiền Thánh, Thiện Thần, Thiên, Long, Hộ Pháp, từ bi thương xót, sám rửa lỗi lầm, khiến cho công đức tụng Kinh đều được chu viên thành tựu.

Đệ tử chúng con… nguyện tâm hồi hướng còn e hoặc khi dịch nhuận lỗi lầm, hoặc lúc giải chua thiếu sót, truyền thụ sai thù, âm thích lẫn lộn. Những lỗi xét nét đổi thay, những lầm cắt, in, viết, chép. Dù thầy, dù thợ, đều xin sám hối, nhờ sức thần của Chư Phật, khiến cho tội lỗi tiêu tan, thường quay xe Pháp, cứu vớt Hàm linh.

Nguyện đem công đức trì chú, tụng Kinh, hồi hướng về Hộ Pháp, Long, Thiên, Thánh chúng, Thần núi sông linh thiêng trong tam giới, vị Chủ Tể

thủ hộ chốn Già Lam, cầu mong được hồng phúc thiện bình an, trang nghiêm đạo quả Vô thượng Bồ Đề. Nguyện cho khắp cả Pháp giới chúng sinh cùng được vào bể Như Lai pháp tính. ooo (sang mõ)

 

 

  

 

 KINH LĂNG NGHIÊM CHƯƠNG ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT NIỆM PHẬT       

Ngài Đại Thế Chí, con đấng Pháp Vương, cùng năm mươi hai vị Đại Bồ Tát đồng hạnh với Ngài, đứng dậy dập đầu lễ dưới chân Phật, mà bạch Phật rằng: “Con nhớ đời xưa, cách đây nhiều kiếp, có Phật ra đời, hiệu Ngài gọi là Phật Vô Lượng Quang. Mười hai Như Lai cùng nối ngôi nhau ra trong một kiếp, Như Lai cuối cùng hiệu Ngài gọi là Siêu Nhật Nguyệt Quang, Ngài dạy Con Pháp “Niệm Phật Tam Muội”. Ví như hai người: một người chuyên nhớ, một người chuyên quên. Hai người như thế, dù có gặp nhau cũng như chẳng gặp, dù có thấy nhau cũng như chẳng thấy. Vậy hai người phải cùng nhớ tới nhau rất là thâm thiết, cứ như thế mãi, cho hết kiếp này, lại sang kiếp khác, như bóng với hình chẳng hề rời nhau. Mười phương Như Lai thương nhớ chúng sinh như mẹ nhớ con, nếu con trốn chạy, thì mẹ dẫu nhớ có làm gì được. Nếu con nhớ mẹ, như mẹ nhớ con, mẹ con đời đời chẳng rời xa nhau. Nếu tâm chúng sinh nhớ Phật niệm Phật, đời này đời sau quyết định thấy Phật, cách Phật chẳng xa. Chẳng nhờ đến pháp phương tiện nào khác, mà cũng khai ngộ được tâm của mình. Như người ướp hương, thân có mùi hương. Pháp này gọi là “Hương Quang Trang Nghiêm”. Chỗ bản nhân Con dùng tâm niệm Phật vào vô sinh nhẫn. Nay ở cõi này, tiếp người niệm Phật về nơi Tịnh Độ. Phật hỏi Viên thông, Con không chọn lựa, Con chỉ thu nhiếp tất cả sáu căn, chuyên một tịnh niệm, nối nhau liền liền, được vào Chính Định, ấy là đệ nhất.

Ooo

Phật Di Đà mình vàng lấp lánh

Tướng tốt thay trong sáng khôn bì

Mi trắng tỏa Tu Di năm núi

Mắt như bốn biển lớn trong xanh

Hào quang hóa Phật hình vô ức

Hóa Bồ Tát cũng thật vô biên

Bốn tám nguyện khắp miền độ chúng

Chín phẩm Hàm Linh chứng Bồ Đề.

Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. (3 lần) ooo

Nam mô A Di Ðà Phật. (3 tràng) ooo

Nam mô Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (10 lần) o

Nam mô Ðại Thế Chí Bồ Tát. (10 lần) o

Nam mô Ðịa Tạng Vương Bồ Tát. (10 lần) o

Nam mô Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ Tát. (10 lần) o

 

LỄ PHẬT

1. Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến Pháp giới, quá hiện vị lai thập phương Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo.

(1 lễ) o

2. Nhất tâm đảnh lễ Đức Giáo chủ cõi Sa Bà, Thầy dạy Trời Người, cha lành bốn loài, muôn ức hóa thân, Bản sư Hòa Thượng Thích Ca Mâu Ni Phật, cùng hết thảy Chư Phật ở khắp mười phương.

(1 lễ) o

3. Nhất tâm đảnh lễ Tỳ Lô Xá Na Phật, Lô Xá Na Phật, A Sô Bệ Phật, Bảo Sinh Phật, Quán Tự Tại Vương Phật, Bất Không Thành Tựu Phật, A Di Đà Phật, cùng hết thảy Chư Phật ở khắp mười phương.

(1 lễ) o

4. Nhất tâm đảnh lễ Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Phật, Giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật, Nhất Thiết Trí Thành Tựu Phật, Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Phật, cùng hết thảy Chư Phật ở khắp mười phương.

(1 lễ) o

5. Nhất tâm đảnh lễ Vô Biên Thân Phật, Bảo Thắng Phật, Ba Đầu Ma Thắng Phật, Sư Tử Hống Phật, Câu Lưu Tôn Phật, Tỳ Bà Thi Phật, Đa Bảo Phật, Bảo Tướng Phật, Ca Sa Tràng Phật, Đại Thông Sơn Vương Phật, cùng hết thảy Chư Phật ở khắp mười phương.

(1 lễ) o

6. Nhất tâm đảnh lễ Tịnh Nguyệt Phật, Sơn Vương Phật, Trí Thắng Phật, Tịnh Danh Vương Phật, Trí Thành Tựu Phật, Vô Thượng Phật, Diệu Thanh Phật, Mãn Nguyệt Phật, Nguyệt Diện Phật, cùng hết thảy Chư Phật ở khắp mười phương.

(1 lễ) o

7. Nhất tâm đảnh lễ Kinh Địa Tạng Bản Nguyện Công Đức, cùng Chư Tôn Pháp ở khắp mười phương.

(1 lễ) o

8. Nhất tâm đảnh lễ U Minh Giáo Chủ, Đại Bi, Đại Nguyện, Đại Thánh, Đại Từ, Bản Tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma ha tát, cùng chư Bồ Tát ở khắp mười phương.

(1 lễ) o

9. Nhất tâm đảnh lễ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Tài Thủ Bồ Tát, Định Tự Tại Vương Bồ Tát, Vô Tận Ý Bồ Tát, Giải Thoát Bồ Tát, Phổ Quảng Bồ Tát, cùng hết thảy chư Bồ Tát, Bích Chi, La Hán, Thanh Văn, Duyên Giác, Hiền Thánh, Hộ Pháp chư Thiên, Hộ Pháp Thiện Thần chư vị Bồ Tát ở khắp mười phương.

(1 lễ) ooo        

 

 SÁM MƯỜI PHƯƠNG       

Mười phương Chư Phật ba đời

Di Đà bậc nhất chẳng rời quần sinh

Sen vàng chín phẩm sẵn sàng

Oai linh đức cả đã thành vô biên

Nay con dâng tấm lòng thiền

Quy y với Phật, sám liền tội căn

Phúc lành con chi chăng

Ít nhiều quyết cũng nguyện rằng về Tây

Nguyện cùng với bạn tu đây

Tùy thời cảm ứng hiện ngay điềm lành

Biết giờ, biết khắc rõ rành

Lâm chung tận mặt cảnh lành Tây Phương

Thấy nghe chính niệm hơn thường

Vãng sinh Lạc Quốc đồng hương hoa vàng

Hoa nở thấy Phật rõ ràng

Thoát vòng sinh tử, độ an muôn loài

Phiền não vô tận, thệ dứt trừ

Pháp môn tu học, chẳng còn dư

Chúng sinh nguyện độ, bờ kia đến

Phật Đạo cùng nhau chứng trí như

Hư không cõi nọ dẫu cùng

Nguyện con còn mãi chẳng cùng chẳng thiên

Không tình cùng có đồng nguyền

Trí màu của Phật đồng viên đồng thành.

 

SÁM PHỔ HIỀN

Đệ tử chúng con tùy thuận tu tập

Phổ Hiền Bồ Tát thập chúng đại nguyện:

Một là lễ kính Chư Phật

Hai là xưng tán Như Lai

Ba là rộng tu cúng dàng

Bốn là sám hối nghiệp chướng

Năm là tùy hỷ công đức

Sáu là thỉnh chuyển Pháp luân

Bảy là thỉnh Phật trụ thế

Tám là thường theo Phật học

Chín là tùy thuận chúng sinh

Mười là khắp đều hồi hướng.

 

TỤNG KINH

Tụng Kinh công đức thù thắng hạnh

Vô biên thắng phúc giai hồi hướng

Phổ nguyện Pháp giới chư chúng sinh

Tốc vãng vô lượng quang Phật sát.

Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não

Nguyện đắc trí tuệ chân minh liễu

Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ

Thế thế thường hành Bồ Tát đạo.

Nguyện sinh Tây phương Tịnh độ trung

Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu

Hoa khai kiến Phật ngộ vô sinh

Bất thoái Bồ Tát vi bạn lữ.

Nguyện dĩ thử công đức

Phổ cập ư nhất thiết

Ngã đẳng dữ chúng sinh

Giai cộng thành Phật đạo.

 

TAM QUY

Con quy Phật rồi, nguyện cho chúng sinh, thật hiểu đạo lớn, mở lòng vô thượng.

(1 lễ) o

Con quy Pháp rồi, nguyện cho chúng sinh, thấu hiểu nghĩa Kinh, trí tuệ như bể.

(1 lễ) o

Con quy Tăng rồi, nguyện cho chúng sinh, hợp đạo đồng tình, không gì trở ngại.

(1 lễ) ooo

 

HÒA NAM THÁNH CHÚNG

Nguyện đem công đức này

Chung cho khắp hết thảy

Chúng con và chúng sinh

Đều cùng thành đạo Phật. 

ooo

 

 

 

 

 

 

KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BẢN NGUYỆN

Soạn giả: Thượng Tọa Thích Minh Tuệ

***

NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO

53 Tràng Thi - Hoàn Kiếm - Hà Nội

Tel: (024) 37822845 - Fax (024) 37822841

Email: nhaxuatbantongiao@gmail.com

Chịu trách nhiệm xuất bản

Giám đốc: ThS. Nguyễn Hữu Có

Chịu trách nhiệm nội dung

Q. Tổng Biên Tập: Lê Hồng Sơn Biên Tập: Nguyễn Thị Hà

Trình bày bìa và kỹ thuật vi tính

Thích Giác Tâm

Đơn vị liên kết xuất bản

Thượng Tọa Thích Minh Tuệ Chùa Vạn Niên

364 Lạc Long Quân - Tây Hồ - Hà Nội

In 300 cuốn, khổ 16x24 cm tại Công ty TNHH Văn Hóa Phẩm Phật Giáo Tản Viên. Đc: Thôn Tây Ninh, xã Sơn Đông, thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội. Số ĐKXB: 4687-2021/CXBIPH/01-119/TG

Mã ISBN: 978-604-61-8138-5

QĐXB số: 555/QĐ-NXBTG ngày 21 tháng 12 năm 2021

In xong và nộp lưu chiểu quý I năm 2022        

🙏 NGHI THỨC SAU KHI ĐỌC KINH, CHÚ

IV. Hậu Nghi: Phổ Nguyện Hồi Hướng

Hành giả chắp tay, đọc lời hồi hướng công đức:

"Con xin đem công đức trì tụng kinh Kinh Sách Tu Tập này, hồi hướng cho:

  1. Cửu huyền thất tổ, nội ngoại tông thân nhiều đời kiếp, nguyện ông bà cha mẹ siêu sinh Tịnh Độ.

  2. Oan gia trái chủ, những chúng sinh con vô tình hay cố ý tổn hại, nguyện hóa giải oán kết, đồng tu thiện nghiệp.

  3. Vong linh thai nhi, các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn, và thập nhị loại cô hồn nơi đất này, mong tất cả nương nhờ Phật lực, sớm thoát luân hồi.

  4. Gia đình bản thân: Cầu nguyện gia môn hưng thịnh, tai qua nạn khỏi, bệnh tật tiêu trừ, công việc hanh thông. Nguyện cho bản thân con trí tuệ khai mở, tâm bồ đề kiên cố, bền bỉ tu học, tinh tấn không lui sụt."

Phục nguyện: Nguyện khắp thế giới an lành, chúng sinh đồng đăng bỉ ngạn.

Nam Mô A Di Đà Phật. (Lạy 3 lễ rồi lui ra)